Trang 2 của 9 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 83
  1. #11
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    Khi những nhà trồng nho thời xưa ở nước Pháp yêu cầu ra một đạo luật cấm trồng những cây nho mới; khi những người Hà Lan đốt những cây hương liệu của châu Á, nhổ những gốc đinh hương trên đảo Mô-luy-cơ, chẳng qua là họ chỉ muốn giảm bớt sự dồi dào để nâng cao giá trị trao đổi mà thôi. Trong suốt thời trung cổ con người đã hành động theo nguyên tắc ấy khi người ta hạn chế, bằng những đạo luật, số thợ bạn mà mỗi một người thợ cả thuê được, khi người ta hạn chế số lượng công cụ mà mỗi một người thợ cả có thể dùng. (Xem: An-đéc-xơn, "Lịch sử thương mại"41).

    Sau khi đã coi sự dồi dào như là giá trị sử dụng, và sự khan hiếm như là giá trị trao đổi, - không có gì dễ hơn việc chứng minh rằng sự dồi dào và sự khan hiếm ở trong một quan hệ đảo nghịch với nhau, - ông Pru-đông coi giá trị sử dụng và số cung là một, còn giá trị trao đổi và số cầu là một. Để làm cho sự đối lập ấy nổi bật hơn nữa, ông ta đã thay thế thuật ngữ, lấy chữ "giá trị được quy định bởi ý niệm" thay vào giá trị trao đổi. Như vậy là cuộc đấu tranh đã chuyển sang một địa hạt khác, và chúng ta thấy một bên là sự hữu ích (giá trị sử dụng, số cung), một bên là ý niệm (giá trị trao đổi, số cầu).

    Làm thế nào để điều hoà hai lực đối lập với nhau ấy? Làm thế nào để hoà giải chúng với nhau? Người ta có thể tìm được chí ít một điểm thống nhất giữa chúng với nhau hay không?

    Ông Pru-đông kêu to lên rằng, dĩ nhiên có một điểm như thế: đó là quyết định tự do. Giá cả được hình thành do cuộc đấu tranh ấy giữa cung và cầu, giữa sự hữu ích và ý niệm, sẽ không phải là biểu hiện của sự công bằng vĩnh cửu.
    Ông Pru-đông tiếp tục phát triển sự đối lập ấy:
    "Với tư cách là người mua có tự do, thì tôi là người xét đoán nhu cầu của tôi, là người xét đoán sự hữu dụng của vật phẩm, giá cả mà tôi muốn gán cho vật phẩm. Mặt khác, với tư cách là người sản xuất có tự do, anh làm chủ những tư liệu sản xuất ra vật phẩm, và do đó, anh có khả năng giảm bớt những chi phí của anh" (t.I, tr. 41).

    Và vì số cầu hay giá trị trao đổi cùng đồng nghĩa với ý niệm, cho nên ông Pru-đông phải nói rằng:
    "Người ta đã chứng minh rằng chính ý chí tự do của con người đã đưa đến sự đối lập giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Chừng nào ý chí tự do còn tồn tại thì làm thế nào mà giải quyết được sự đối lập ấy? Và làm thế nào mà hy sinh ý chí tự do được, mà vẫn không phải hy sinh con người?" (t. I, tr. 41).

    Cho nên, không thể có được một kết quả nào. Chỉ có một cuộc đấu tranh giữa hai lực có thể nói là không thể đối sánh được, giữa sự hữu ích và ý niệm, giữa người mua có tự do và người sản xuất có tự do.

  2. #12
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    4
    Ông Pru-đông đem đối lập người mua có tự do với người sản xuất có tự do. Ông ta gán cho người này và người kia những tính chất thuần tuý siêu hình. Chính vì thế mà ông ta nói: "Người ta đã chứng minh được rằng chính là ý chí tự do của con người đã đưa đến sự đối lập giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi".

    Nếu người sản xuất chỉ sản xuất trong một xã hội dựa trên sự phân công và sự trao đổi, - mà đó là giả thiết của ông Pru-đông, - thì người đó bắt buộc phải bán ra. Ông Pru-đông làm cho người sản xuất làm chủ những tư liệu sản xuất, nhưng ông ta sẽ đồng ý với chúng ta rằng những tư liệu sản xuất của người sản xuất không tùy thuộc ở ý chí tự do. Hơn thế nữa, những tư liệu sản xuất ấy phần lớn là những sản phẩm đến với anh ta từ bên ngoài, và trong nền sản xuất hiện đại, anh ta cũng không phải là được tự do sản xuất ra sản phẩm với số lượng mà anh ta muốn. Trình độ phát triển hiện nay của những lực lượng sản xuất bắt buộc anh ta phải sản xuất theo quy mô này hay quy mô khác.

    Người tiêu dùng cũng không được tự do hơn người sản xuất. Ý niệm của anh ta dựa trên những phương tiện và những nhu cầu của anh ta. Những phương tiện ấy và những nhu cầu ấy do địa vị xã hội của anh ta quy định, mà bản thân địa vị xã hội này lại tùy thuộc vào toàn bộ tổ chức xã hội. Tất nhiên, người công nhân mua khoai tây, và người tỳ thiếp mua đăng-ten, cả hai người ấy đều làm theo ý niệm riêng của họ. Nhưng sự khác nhau về ý niệm của họ là do ở sự khác nhau về địa vị mà họ chiếm trong xã hội, địa vị khác nhau ấy trong xã hội lại là sản phẩm của tổ chức xã hội.

    Toàn bộ hệ thống nhu cầu dựa trên ý niệm hay là dựa trên toàn bộ tổ chức sản xuất? Thông thường nhất thì nhu cầu trực tiếp do sản xuất sinh ra hay là do một tình trạng dựa trên sản xuất sinh ra. Thương mại trên thế giới hầu như hoàn toàn do những nhu cầu không phải của sự tiêu dùng cá nhân, mà của sản xuất quyết định. Cũng hệt như vậy, nếu chúng ta lấy một thí dụ khác, chúng ta sẽ hỏi: việc người ta cần đến những người công chứng chẳng phải là kết quả của một bộ dân luật nhất định, mà bộ dân luật này thì chỉ biểu thị một trình độ phát triển nào đó của quyền sở hữu, nghĩa là của sản xuất đó sao?

    Ông Pru-đông chưa vừa lòng với việc gạt bỏ những yếu tố mà chúng ta vừa nói đến, ra ngoài quan hệ giữa cung và cầu thôi đâu. Ông ta đã đẩy sự trừu tượng đến những giới hạn cuối cùng, bằng cách gộp tất cả những người sản xuất lại thành một người sản xuất duy nhất, tất cả những người tiêu dùng lại thành một người tiêu dùng duy nhất, và dựng nên cuộc đấu tranh giữa hai nhân vật tưởng tượng ấy. Thế nhưng, trong thế giới hiện thực, sự vật đã diễn ra một cách khác. Sự cạnh tranh giữa những đại biểu của cung với nhau và sự cạnh tranh giữa những đại biểu của cầu với nhau đã tạo nên một yếu tố cần thiết của cuộc đấu tranh giữa những người mua với những người bán, cuộc đấu tranh mà kết quả của nó là giá trị trao đổi.

  3. #13
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    7
    Sau khi đã gạt bỏ những chi phí sản xuất và sự cạnh tranh, ông Pru-đông có thể đưa công thức cung cầu đến chỗ vô lý, như vậy ông mới thỏa lòng.

    Ông ta nói: "cung và cầu chẳng qua chỉ là hai nghi thức dùng để đối lập giá trị sử dụng với giá trị trao đổi, và để điều hòa chúng với nhau. Đó là hai điện cực, mà sự nối liền hai điện cực ấy tất gây ra hiện tượng ái lực gọi là sự trao đổi" (t. I, tr.49-50).

    Nói như vậy chẳng khác nào nói rằng sự trao đổi chỉ là một "nghi thức", để đặt người tiêu dùng đối diện với vật phẩm tiêu dùng. Chẳng khác nào nói rằng tất cả những quan hệ kinh tế đều là những "nghi thức", để dùng làm môi giới cho sự tiêu dùng trực tiếp. Cung và cầu là những quan hệ của một nền sản xuất nhất định, chỉ là những sự trao đổi cá nhân, không hơn không kém.

    Như vậy, tất cả phép biện chứng của ông Pru-đông là gì? Là đem những khái niệm trừu tượng và mâu thuẫn, như là sự khan hiếm và sự dồi dào, sự hữu ích và ý niệm, một người sản xuất và một người tiêu dùng, vả lại cả hai người đều là kỵ sĩ của ý chí tự do, thay thế cho những khái niệm về giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, cho cung và cầu.

    Và bằng cách đó ông ta muốn đạt đến cái gì đây?

    Chính là để sau này ông ta sẽ có điều kiện đưa vào một trong những yếu tố mà chính ông ta gạt bỏ, - tức là những chi phí sản xuất, - coi đó là sự tổng hợp giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Theo ông ta, những chi phí sản xuất cấu thành giá trị tổng hợp hay giá trị cấu thành như thế đó.

  4. #14
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    § II. GIÁ TRỊ CẤU THÀNH HAY GIÁ TRỊ TỔNG HỢP

    "Giá trị" (trao đổi) "là hòn đá tảng của tòa nhà kinh tế". Giá trị "cấu thành" là hòn đá tảng của hệ thống những mâu thuẫn kinh tế.

    Vậy cái "giá trị cấu thành" ấy, - mà đã tạo nên tất cả phát kiến của ông Pru-đông về khoa kinh tế chính trị - là cái gì?

    Một khi sự hữu ích của sản phẩm này hay sản phẩm khác đã được thừa nhận, thì lao động là nguồn gốc của giá trị sản phẩm đó. Thước đo của lao động, chính là thời gian. Giá trị tương đối của các sản phẩm do thời gian lao động cần dùng để sản xuất ra chúng quyết định. Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị tương đối của một sản phẩm. Cuối cùng, giá trị cấu thành của một sản phẩm chẳng qua chỉ là giá trị cấu thành bởi thời gian lao động bỏ vào đó.

    Cũng giống như A-đam Xmít đã phát hiện ra sự phân công lao động, ông Pru-đông cũng thế, ông ta cho rằng mình đã phát hiện ra "giá trị cấu thành".
    Đương nhiên đó không phải là "một cái gì hoàn toàn mới mẻ" nhưng cũng phải thừa nhận rằng chẳng có cái gì là hoàn toàn mới mẻ trong bất cứ một sự phát hiện nào của khoa học kinh tế cả. Ông Pru-đông cảm thấy hết tầm quan trọng của phát kiến của mình, tuy nhiên, ông ta tìm cách giảm nhẹ ý nghĩa của nó, "để làm cho bạn đọc yên tâm đối với việc ông ta tự cho là độc đáo, và để điều hoà với những bộ óc ít dám tiếp thụ những tư tưởng mới do tính nhút nhát của mình". Nhưng khi đánh giá phần cống hiến của mỗi người tiền bối của ông ta về mặt xác định giá trị, ông ta buộc phải công nhận và lớn tiếng tuyên bố rằng, chính ông ta đã góp phần cống hiến lớn nhất, phần quan trọng nhất.

    "Quan niệm tổng hợp về giá trị đã được A-đam Xmít nhìn thấy một cách lờ mờ... Nhưng ở A-đam Xmít quan niệm ấy về giá trị là hoàn toàn theo trực giác, thế nhưng, xã hội không thay đổi những tập quán của mình theo lòng tin vào trực giác; chỉ có uy lực của sự thật mới thuyết phục được nó. Phải diễn đạt sự mâu thuẫn một cách dễ thấy và rõ ràng hơn: Gi.B. Xây là người giải thích chủ yếu cho mâu thuẫn đó".

    Đó là lịch sử đầy đủ về sự phát hiện ra giá trị tổng hợp: A-đam Xmít có cái trực giác mơ hồ, Gi.B.Xây có sự đối lập, ông Pru-đông có chân lý cấu thành và "được cấu thành". Và đừng ai hiểu nhầm đấy: tất cả những nhà kinh tế học khác từ Xây cho đến Pru-đông, chỉ làm cái việc lê gót trong vết xe cũ của sự đối lập mà thôi.

    "Không thể tin được rằng bao nhiêu người rất có trí tuệ từ bốn mươi năm nay lại khổ tâm vì một quan niệm giản đơn đến thế. Nhưng không, tiến hành so sánh các giá trị với nhau mặc dầu không có một điểm chung nào và không có một đơn vị đo lường nào để so sánh với nhau cả, - đó là cái mà cái nhà kinh tế học của thế kỷ XIX đã kiên quyết khẳng định bất chấp tất cả và chống lại tất cả mọi người, chứ không phải là tiếp thụ lý luận cách mạng về sự bình đẳng. Hậu thế sẽ nói gì về điểm này đây?" (t. I, tr. 68).

  5. #15
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Bị chất vấn bất thình ***h như thế, hậu thế sẽ bắt đầu phải lúng túng về niên đại. Như thế hậu thế tất phải tự hỏi rằng: vậy thì Ri-các-đô và trường phái của ông ta không phải là những nhà kinh tế học của thế kỷ XIX hay sao? Học thuyết của Ri-các-đô dựa trên nguyên lý là "giá trị tương đối của hàng hoá chỉ do số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng, quy định mà thôi" thì đã có từ năm 1817. Ri-các-đô là thủ lĩnh của cả một trường phái đã thống trị ở nước Anh từ thời kỳ Phục hưng43. Học thuyết Ri-các-đô tóm tắt lại một cách chặt chẽ, nghiêm khắc quan điểm của toàn thể giai cấp tư sản Anh, giai cấp này bản thân nó là hiện thân của giai cấp tư sản hiện đại. "Hậu thế sẽ nói gì về điểm này đây?". Hậu thế sẽ không nói rằng ông Pru-đông không hề hiểu biết Ri-các-đô, vì ông ta đã nói về Ri-các-đô, nói nhiều lắm, ông ta nói lui nói tới đến Ri-các-đô để rồi cuối cùng gọi học thuyết của Ri-các-đô là một "mớ lộn xộn". Nếu một lúc nào đó hậu thế can dự vào vấn đề này thì có lẽ hậu thế sẽ nói rằng ông Pru-đông, vì sợ đụng vào tâm lý ghét người Anh của các bạn đọc của ông ta, đã tình nguyện tự mình làm người phát hành có trách nhiệm những quan niệm của Ri-các-đô. Nhưng dù sao, hậu thế cũng sẽ thấy rằng thật là ngây thơ khi ông Pru-đông lấy cái mà Ri-các-đô đã trình bày một cách khoa học như là lý luận về xã hội hiện thời, về xã hội tư sản để cho đó là "lý luận cách mạng về tương lai", và khi ông ta lấy cái mà Ri-các-đô và trường phái của Ri-các-đô đã trình bày khá lâu trước ông ta như là công thức khoa học về một mặt duy nhất của sự mâu thuẫn, về giá trị trao đổi, để cho đó là cách giải quyết mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Nhưng chúng ta hãy thôi không nói đến hậu thế nữa, và chúng ta hãy đối chất ông Pru-đông với tiền bối Ri-các-đô của ông ta. Sau đây là vài đoạn của Ri-các-đô tóm tắt học thuyết của ông về giá trị:
    "Sự hữu ích không phải là thước đo của giá trị trao đổi, mặc dầu nó là tuyệt đối cần thiết cho giá trị trao đổi" (tr. 3, t. I của "Những nguyên lý của khoa kinh tế chính trị", v.v., do Ph. X. Công-xtăng-xi-ô dịch từ bản tiếng Anh, Pa-ri, 1835).

    "Một khi các vật đã được thừa nhận tự bản thân chúng là có ích, thì các vật sẽ có giá trị trao đổi do hai nguồn gốc: do sự khan hiếm của chúng và do số lượng lao động cần thiết để có được chúng. Có những cái mà giá trị chỉ tuỳ thuộc vào sự khan hiếm của chúng mà thôi. Vì không một lao động nào có thể tăng thêm số lượng của chúng cho nên giá trị của chúng không thể giảm bớt do chúng có nhiều hơn được. Chẳng hạn như những pho tượng hay những bức tranh quý giá, v.v.. Giá trị ấy chỉ tuỳ thuộc vào sự giàu có, sở thích và hứng thú của những người muốn có những vật như thế" (tr. 4 và 5, t. I, s.đ.d.). "Tuy nhiên, những hàng hoá đó chỉ là một phần rất nhỏ trong số những hàng hoá mà người ta trao đổi hàng ngày trên thị trường. Vì số rất lớn những vật mà người ta muốn có là kết quả của lao động, cho nên hễ lúc nào mà người ta muốn sử dụng lao động cần thiết để tạo ra chúng thì người ta cũng đều có thể tăng số lượng của chúng lên, không những là trong một nước, mà là trong nhiều nước, đến một mức độ hầu như là không thể nào giới hạn được" (tr. 5, t. I, s.đ.d). "Vậy khi nào chúng ta nói đến hàng hoá, nói đến giá trị trao đổi của chúng và những nguyên tắc điều tiết giá cả tương đối của chúng, thì tức là chúng ta chỉ nói đến những hàng hoá mà số lượng có thể tăng lên do lao động của con người, mà việc sản xuất ra chúng được sự cạnh tranh kích thích và không bị một trở ngại nào ngăn cản cả" (t. I, tr. 5).

    Ri-các-đô dẫn chứng A-đam Xmít, theo ông ta thì A-đam Xmít "đã xác định một cách rất chính xác nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị trao đổi" (xem Xmít, q.I, ch. 544). Tiếp đó, Ri-các-đô nói thêm:
    Học thuyết nói rằng chính cái đó (tức là thời gian lao động) "là cơ sở của giá trị trao đổi của mọi cái, trừ những cái mà lao động của con người không thể tha hồ làm tăng số lượng lên được, - học thuyết ấy cực kỳ quan trọng trong khoa kinh tế chính trị; bởi vì không có một cái gì lại sinh ra nhiều sự nhầm lẫn, và nhiều ý kiến khác nhau trong khoa học ấy,- như là tính không chính xác và ý nghĩa mơ hồ mà người ta gán cho chữ "giá trị"" (t. I, tr. 8).
    "Nếu như giá trị trao đổi của hàng hoá được quy định bởi số lượng lao động thể hiện trong hàng hoá thì mọi sự tăng thêm về số lượng lao động tất nhiên sẽ làm tăng thêm giá trị của hàng hoá mà lao động đã được hao phí để tạo ra, và mọi sự giảm bớt số lượng lao động ắt phải làm giảm bớt giá trị của nó"
    (t. I, tr. 8).

    Sau đó Ri-các-đô chỉ trích A.Xmít:

    1) "Là đã cho giá trị một thước đo khác với lao động, khi thì lấy giá trị của lúa mì, khi thì lấy số lượng lao động mà một vật có thể mua được", v.v. (t. I, tr. 9 và 10).
    2) "Là đã chấp nhận nguyên tắc một cách không hạn chế nhưng lại hạn chế sự ứng dụng nguyên tắc ấy chỉ trong phạm vi xã hội ở trạng thái nguyên thủy và thô sơ, trước thời kỳ có tích lũy tư bản và thiết lập quyền sở hữu ruộng đất" (t. I, tr. 21).

  6. #16
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Ri-các-đô cố chứng minh rằng quyền sở hữu ruộng đất, nghĩa là địa tô, không thể nào thay đổi giá trị tương đối của nông sản, còn tích lũy tư bản cũng chỉ có một ảnh hưởng tạm thời và không ổn định đối với những giá trị tương đối, những giá trị tương đối này do số lượng lao động so sánh được dùng để sản xuất ra chúng, quy định. Để chứng minh luận đề ấy, ông đã đưa ra học thuyết nổi tiếng của ông về địa tô, phân tích tư bản theo những bộ phận cấu thành của nó, và cuối cùng, chỉ thấy có lao động tích lũy ở trong tư bản mà thôi. Sau đó ông phát triển cả một học thuyết về tiền công và lợi nhuận, và chứng minh rằng tiền công và lợi nhuận tăng và giảm theo tỷ lệ nghịch với nhau, mà không ảnh hưởng gì đến giá trị tương đối của sản phẩm cả. Ông không coi thường ảnh hưởng của tích lũy tư bản và của sự khác nhau về bản chất của tư bản (tư bản cố định và tư bản lưu động), cũng như của mức tiền công, đối với giá trị tỷ lệ của các sản phẩm. Hơn nữa, đó cũng là những vấn đề chủ yếu mà Ri-các-đô quan tâm.

    Ông nói rằng "mọi sự tiết kiệm lao động bao giờ cũng làm giảm giá trị tương
    đối (1) của một hàng hoá, vô luận đó là sự tiết kiệm lao động cần thiết để chế tạo ra bản thân vật ấy, hay là sự tiết kiệm lao động cần thiết để làm ra tư bản dùng vào việc sản xuất vật ấy cũng vậy" (t. I, tr . 28). "Vì thế cho nên, chừng nào mà một ngày lao động tiếp tục cung cấp cho người này vẫn một số lượng cá như cũ và cung cấp cho người kia vẫn một số thú săn như cũ, thì mức tự nhiên của những giá cả trao đổi của cá và thú săn vẫn luôn luôn giữ nguyên như cũ, bất kể tiền công và lợi nhuận thay đổi như thế nào, và bất kể tất cả những hậu quả của tích lũy tư bản là như thế nào" (t. I, tr . 32). "Chúng ta đã coi lao động như là cơ sở của giá trị các vật, và coi số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng như là mức quy định những số lượng hàng hoá tương ứng mà người ta phải trao đổi để lấy những vật khác; nhưng chúng ta đã không định phủ nhận rằng, trong giá cả thị trường của hàng hoá, có thể có sự lên xuống ngẫu nhiên và tạm thời của giá cả ban đầu và tự nhiên ấy" (t. I, tr . 105, s.đ.d.). "Suy đến cùng thì chính là những chi phí sản xuất quy định giá cả của các vật, chứ không phải là, như người ta thường nói, tỷ lệ giữa cung và cầu" (t. II, tr . 253).

    Huân tước Lô-đéc-đan đã trình bày những sự thay đổi của giá trị trao đổi theo quy luật cung cầu, hay là quy luật về sự khan hiếm và sự dồi dào so với số cầu. Theo ông, giá trị của một vật có thể tăng lên khi số lượng của nó giảm bớt hay là số cầu về nó tăng lên; giá trị có thể giảm bớt vì số lượng của vật ấy tăng thêm hay vì số cầu giảm bớt. Như vậy, giá trị của một vật có thể thay đổi, vì tác dụng của tám nguyên nhân khác nhau, tức là của bốn nguyên nhân thuộc về bản thân vật đó, và của bốn nguyên nhân thuộc về tiền hay bất cứ hàng hoá nào khác dùng làm thước đo cho giá trị của nó. Sau đây là lý lẽ bác bỏ của Ri-các-đô:

    -------------------------------------------------------------------------
    (1): Như ta đã rõ, Ri-các-đô quy định giá trị của hàng hoá bởi "số lượng lao động cần bỏ ra để tạo ra hàng hoá đó". Nhưng hình thức trao đổi lại ngự trị trong bất kỳ phương thức sản xuất nào dựa trên sản xuất hàng hoá, bởi vậy trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thức này dẫn tới việc giá trị tương đối được thể hiện trực tiếp không phải trong số lượng lao động mà là trong số lượng hàng hoá khác nào đó. Giá trị của hàng hoá biểu hiện trong số lượng nhất định của hàng hoá khác (tiền hoặc không phải tiền cũng vậy) được Ri-các-đô gọi là giá trị tương đối của hàng hoá này. - Ph. Ă. (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1885)

  7. #17
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    "Giá trị của những sản phẩm mà một tư nhân hay một công ty giữ độc quyền, thay đổi theo quy luật mà huân tước Lô-đéc-đan đã đề ra: người ta càng cung cấp nhiều sản phẩm ấy hơn thì chúng càng giảm giá trị, và những người mua càng tỏ ra muốn mua những sản phẩm ấy thì giá trị của chúng lại càng tăng; giá cả của chúng không có một quan hệ tất yếu nào với giá trị tự nhiên của chúng cả. Còn như những vật mà giữa những người bán hàng có sự cạnh tranh lẫn nhau, và số lượng có thể tăng lên vừa phải thì giá cả của chúng cuối cùng là tuỳ ở sự tăng hoặc giảm chi phí sản xuất, chứ không phải ở tình hình cung cầu" (t. II, tr. 259).

    Chúng tôi xin để cho bạn đọc tự so sánh lấy giữa lời văn rất chính xác, rất sáng rõ, rất giản đơn của Ri-các-đô với sự cố gắng hành văn khoa trương của ông Pru-đông, để đi đến chỗ quy định giá trị trao đổi bằng thời gian lao động.

    Ri-các-đô vạch cho chúng ta thấy sự vận động hiện thực của sản xuất tư sản, sự vận động đó cấu thành giá trị. Ông Pru-đông thì bỏ qua sự vận động hiện thực ấy, ông ta "vắt óc" để tạo ra những biện pháp mới nhằm sắp đặt thế giới theo một công thức tưởng chừng như là mới lạ, kỳ thực nó chỉ là biểu hiện lý luận về sự vận động hiện thực đang tồn tại, mà Ri-các-đô đã trình bày rất rõ ràng rồi. Ri-các-đô xuất phát từ xã hội hiện thời để chứng minh cho chúng ta thấy xã hội hiện thời cấu thành giá trị như thế nào; ông Pru-đông thì lại lấy giá trị cấu thành làm điểm xuất phát để cấu thành một thế giới xã hội mới bằng giá trị ấy. Theo ông Pru-đông, thì giá trị cấu thành phải đi vòng quanh và lại trở nên nhân tố cấu thành đối với một thế giới đã được cấu thành xong xuôi theo phương thức đánh giá ấy. Đối với Ri-các-đô, sự quy định giá trị bằng thời gian lao động là quy luật giá trị trao đổi; đối với ông Pru-đông, nó là sự tổng hợp của giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Học thuyết về giá trị của Ri-các-đô là sự giải thích khoa học về đời sống kinh tế hiện thời; học thuyết về giá trị của ông Pru-đông là sự giải thích không tưởng về học thuyết của Ri-các-đô. Ri-các-đô nhận thức chân lý của công thức của ông bằng cách làm cho nó xuất phát từ tất cả mọi quan hệ kinh tế, và dùng cách đó để giải thích tất cả mọi hiện tượng, kể cả những hiện tượng mà, thoạt tiên, tưởng như là mâu thuẫn với công thức ấy, chẳng hạn như địa tô, tích lũy tư bản và tỷ lệ giữa tiền công và lợi nhuận; đó chính là điều làm cho học thuyết của ông trở thành một hệ thống khoa học; ông Pru-đông thì lại - hơn nữa chỉ bằng cách dùng những giả thiết hoàn toàn tùy tiện - là người đã tìm ra công thức ấy của Ri-các-đô, rồi sau đó ông ta mới bắt buộc phải tìm kiếm những sự kiện kinh tế riêng rẽ mà ông ta bắt bẻ và xuyên tạc đi, nhằm làm cho người ta coi đó là những thí dụ, những kiểu ứng dụng sẵn có, những bước đầu thực hiện tư tưởng tân tạo của ông ta. (Xem § 3 của chúng tôi "Sự ứng dụng giá trị cấu thành".)

    Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang những kết luận mà ông Pru-đông đã rút ra từ giá trị cấu thành (bởi thời gian lao động).

    - Một số lượng lao động nào đó, trị giá bằng sản phẩm mà chính số lượng lao động ấy đã tạo ra.

    - Bất cứ ngày lao động nào cũng trị giá bằng một ngày lao động khác, nghĩa là, với số lượng bằng nhau, lao động của người này trị giá bằng lao động của người khác: giữa chúng không có một sự khác nhau nào về chất lượng cả. Với số lượng lao động bằng nhau, sản phẩm của người này được trao đổi với sản phẩm của người khác. Tất cả mọi người đều là những người lao động làm thuê, và lại là những người làm thuê đều được trả công bằng nhau nếu làm trong một thời gian lao động bằng nhau. Sự trao đổi được tiến hành trên cơ sở bình đẳng hoàn toàn.

  8. #18
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Những kết luận ấy có phải là những kết quả tự nhiên và tất nhiên của giá trị "được cấu thành", hay được quy định bởi thời gian lao động không?

    Nếu giá trị tương đối của một hàng hoá được quy định bởi số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra nó, thì kết quả đương nhiên là giá trị tương đối của lao động, hay tiền công, cũng được quy định bởi số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra tiền công. Vậy tiền công, nghĩa là giá trị tương đối, hay giá cả của lao động, được quy định bởi thời gian lao động cần dùng để sản xuất ra mọi cái cần thiết cho việc nuôi sống người công nhân.

    "Anh hãy giảm bớt những chi phí sản xuất mũ đi, rồi giá cả của mũ cuối cùng sẽ giảm bớt tới mức giá cả mới tự nhiên của chúng, mặc dù lượng cầu có thể tăng lên gấp hai, gấp ba hay gấp bốn". "Anh hãy giảm bớt những chi phí để nuôi sống con người, bằng cách giảm bớt giá cả tự nhiên của thức ăn và quần áo là những cái duy trì cuộc sống, anh sẽ thấy rằng tiền công cuối cùng sẽ hạ xuống, mặc dù lượng cầu về lực lượng lao động có thể tăng lên rất nhiều" (Ri-các-đô, t.II, tr.253).

    Cố nhiên, lối nói của Ri-các-đô thật là sống sượng. Đặt ngang hàng những chi phí sản xuất mũ với chi phí nuôi sống con người, tức là biến con người thành cái mũ. Nhưng chớ vội la lối về sự sống sượng đó! Chính hiện thực là sống sượng, chứ không phải những chữ diễn đạt hiện thực ấy. Những nhà văn Pháp, như ông Đrô-dơ, Blăng-ki, Rốt-xi và những người khác, tự hào một cách ngây thơ khi họ tỏ rõ sự hơn hẳn của họ so với các nhà kinh tế học Anh, bằng cách cố giữ lối nói "nhân đạo"; nếu như các nhà văn Pháp chỉ trích Ri-các-đô và trường phái của ông về lối nói sống sượng của họ, đó chính là vì các nhà văn Pháp phật ý khi thấy trình bày những quan hệ kinh tế với tất cả sự sống sượng của chúng, khi thấy những bí mật của giai cấp tư sản bị bóc trần.

    Tóm lại: lao động tự nó đã là hàng hoá, với tư cách ấy, nó được đo bằng thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra lao động - hàng hoá. Thế cần phải có gì để sản xuất ra lao động - hàng hoá? Cần có thời gian lao động để sản xuất ra những vật phẩm cần thiết cho việc không ngừng duy trì lao động, nghĩa là làm cho người lao động sống được và có điều kiện duy trì giống nòi của mình. Giá cả tự nhiên của lao động không phải là cái gì khác mà là mức tiền công (1) tối thiểu. Nếu như giá cả thị trường của tiền công cao hơn giá cả tự nhiên của nó, đó chính là vì quy luật giá trị, mà ông Pru-đông nêu lên thành nguyên tắc, đã bị hậu quả của những sự biến động trong quan hệ cung cầu làm cân bằng đi. Nhưng, dù sao mức tiền công tối thiểu cũng vẫn là trung tâm thu hút các giá cả thị trường của tiền công.

    Như vậy, giá trị tương đối, đo bằng thời gian lao động, tai hại thay lại là công thức của chế độ nô lệ hiện đại của người công nhân, chứ không phải, - như ông Pru-đông muốn, - là "lý luận cách mạng" về sự giải phóng giai cấp vô sản.

    Bây giờ chúng ta hãy xét xem trong bao nhiêu trường hợp, sự ứng dụng thời gian lao động, với tư cách là thước đo của giá trị, là không phù hợp với sự đối kháng tồn tại giữa các giai cấp và với sự phân phối sản phẩm lao động một cách không bình đẳng giữa người lao động trực tiếp và người chiếm hữu lao động tích lũy.

    ---------------------------------------------------------------------------
    (1): Luận đề nói rằng giá cả "tự nhiên" nghĩa là giá cả bình thường của sức lao động phù hợp với mức tiền công tối thiểu, nghĩa là tương đương với vật ngang giá của giá trị của các tư liệu sinh hoạt tất yếu cần thiết cho người công nhân sống và duy trì nòi giống của anh ta - lần đầu tiên đã được tôi nêu ra trong "Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị" ("Deutsch-Französische Jahrbücher", Pa-ri, 1844) và trong "Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh"45. Như mọi người đã thấy trong bài này, khi đó Mác đã chấp nhận luận đề đó. Luận đề này của hai chúng tôi đã được Lát-xan kế thừa. Tuy nhiên, trên thực tế dù cho tiền công có xu hướng thường xuyên xích gần đến mức tối thiểu của nó thì luận đề trên vẫn không đúng. Việc trả công cho sức lao động thông thường ở mức trung bình thấp hơn giá trị của nó cũng không thể thay đổi được giá trị của nó. Trong bộ "Tư bản" Mác đã sửa luận đề nói trên (đoạn: "Mua và bán sức lao động"), đồng thời ông giải thích những điều kiện dẫn tới việc giảm giá cả sức lao động thấp hơn giá trị của nó ngày càng mạnh trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa (chương XXIII: "Quy luật phổ biến của tích lũy tư bản chủ nghĩa"), - Ph. Ă (Chú thích của Ăng-ghen cho lần xuất bản bằng tiếng Đức năm 1885).

  9. #19
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    19
    Chúng ta hãy giả định một sản phẩm nào đó, vải chẳng hạn. Sản phẩm này, vì là một sản phẩm bao hàm số lượng lao động nhất định. Số lượng lao động ấy vẫn luôn luôn như thế, không kể địa vị tương hỗ của những người đã góp phần tạo ra sản phẩm ấy đã thay đổi như thế nào.

    Chúng ta hãy lấy một sản phẩm khác mà nói: dạ, giả sử nó đòi hỏi được sản xuất với một số lượng lao động giống như khi sản xuất vải.

    Nếu có sự trao đổi giữa các sản phẩm ấy, thì tức là trao đổi những số lượng lao động bằng nhau. Khi trao đổi những số thời gian lao động bằng nhau ấy, người ta không hề thay đổi địa vị tương hỗ của những người sản xuất, cũng như người ta không hề thay đổi gì về mối quan hệ qua lại giữa những người công nhân và những người chủ xưởng với nhau. Nói rằng sự trao đổi ấy của những sản phẩm, mà giá trị của chúng được đo bằng thời gian lao động, đưa đến kết quả là sự trả công bình đẳng giữa tất cả những người sản xuất, - thì tức là giả định rằng sự tham dự bình đẳng vào sản phẩm đã tồn tại trước khi có sự trao đổi rồi. Hãy cho rằng dạ đã trao đổi xong với vải, thế thì những người sản xuất ra dạ sẽ dự phần chia vải theo một tỷ lệ ngang bằng tỷ lệ mà trước đây họ đã dự phần làm ra dạ.

    Sự nhầm lẫn của ông Pru-đông là do chỗ ông coi là kết quả cái mà nhiều lắm cũng chỉ có thể là một sự giả định vô căn cứ.

    Chúng ta hãy bàn tiếp.

    Nếu ta coi thời gian lao động như là thước đo giá trị thì ít ra liệu có thể giả định rằng những ngày lao động đều ngang giá với nhau, và ngày lao động của người này trị giá bằng ngày lao động của người kia được không? Không.

    Chúng ta hãy tạm thời cho rằng ngày lao động của một người thợ kim hoàn trị giá bằng ba ngày lao động của một người thợ dệt; trong trường hợp đó mọi sự thay đổi giá trị của đồ trang sức so với vải, - trừ phi đó là kết quả tạm thời của những biến động trong cung và cầu ra thì không kể, - bao giờ cũng là do thời gian lao động dùng vào việc sản xuất vải hay đồ trang sức giảm bớt hay tăng thêm. Giả sử ba ngày lao động của những người lao động khác nhau so sánh với nhau bằng tỷ lệ giữa 1, 2, 3 thì mọi sự thay đổi trong giá trị tương đối của sản phẩm của họ, sẽ là một sự thay đổi theo tỷ lệ 1, 2, 3 ấy. Như vậy, mặc dù giá trị của những ngày lao động khác nhau là không bằng nhau, người ta vẫn có thể đo giá trị theo thời gian lao động được; nhưng, để ứng dụng một thước đo như thế, chúng ta phải có một biểu so sánh giá trị của những ngày lao động khác nhau; chính sự cạnh tranh đã lập ra biểu ấy.

    Giờ lao động của anh có giá trị bằng giờ lao động của tôi hay không? Đó là một vấn đề phải giải quyết thông qua cuộc cạnh tranh.

    Theo ý kiến một nhà kinh tế học Mỹ, cạnh tranh quy định có bao nhiêu ngày lao động giản đơn chứa đựng trong một ngày lao động phức tạp. Việc quy những ngày lao động phức tạp ra thành những ngày lao động giản đơn lại không giả định rằng người ta lấy chính lao động giản đơn làm thước đo giá trị, hay sao? Nếu chỉ có số lượng lao động dùng làm thước đo cho giá trị, không kể gì đến chất lượng, thì đến lượt nó, điều này cũng giả định rằng lao động giản đơn đã trở thành mấu chốt của hoạt động sản xuất. Nó giả định rằng các hình thức lao động đã được cào bằng với nhau là do con người bị phụ thuộc vào máy móc hay do phân công lao động đạt đến cực điểm; rằng con người đã bị lao động đẩy xuống hàng thứ yếu; rằng quả lắc của đồng hồ đã trở thành thước đo chính xác của hoạt động đối sánh của hai người công nhân, cũng như nó là thước đo chính xác tốc độ của hai đầu tàu. Thế thì, không nên nói rằng một giờ lao động của một người trị giá bằng một giờ lao động của một người khác, mà đúng hơn nên nói là một người trong một giờ lao động trị giá bằng một người khác cũng trong một giờ lao động. Thời gian là tất cả, con người không là cái gì cả; nhiều lắm thì con người cũng chỉ là hiện thân của thời gian. Ở đây, không còn có vấn đề chất lượng nữa. Chỉ có số lượng quyết định tất cả: giờ đối với giờ, ngày đối với ngày; nhưng sự cào bằng lao động ấy quyết không phải là công trình của nguyên tắc công bằng vĩnh viễn của ông Pru-đông; chẳng qua nó chỉ là kết quả của công nghiệp hiện đại.

  10. #20
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Trong công xưởng sử dụng máy móc, lao động của một người công nhân hầu như không còn phân biệt gì với lao động của một người công nhân khác; những người công nhân chỉ còn có thể phân biệt với nhau bằng số lượng thời gian mà họ dùng vào lao động. Tuy vậy, về một phương diện nào đó, sự khác nhau về số lượng ấy trở thành sự khác nhau về chất lượng, vì thời gian cần cho lao động tùy thuộc một phần vào những nguyên nhân thuần tuý vật chất, như là thể chất, tuổi tác, giới tính; một phần tùy thuộc vào những nguyên nhân tinh thần thuần tuý tiêu cực, như là tính nhẫn nại, tính bình thản, sự chuyên cần. Cuối cùng, nếu như có một sự khác nhau về chất lượng trong lao động của công nhân, thì nhiều lắm đó cũng chỉ là một phẩm chất thuộc loại phẩm chất xấu nhất, quyết không phải là một đặc tính được. Suy cho cùng, tình hình trong công nghiệp hiện đại chính là như thế. Chính là ở trên sự bình đẳng đã được thực hiện ấy của lao động cơ giới, mà ông Pru-đông đẩy lưỡi bào "bình quân hoá" của ông ta, sự "bình quân hoá" mà ông ta dự định thực hiện một cách phổ biến trong "thời đại tương lai".

    Tất cả những kết luận "bình quân chủ nghĩa" mà ông Pru-đông rút ra từ học thuyết của Ri-các-đô đều dựa trên một sự sai lầm căn bản. Đó là vì ông ta lẫn lộn giá trị của hàng hoá đo bằng số lượng lao động bỏ vào hàng hoá, với giá trị của hàng hoá đo bằng "giá trị của lao động". Nếu hai cách đo giá trị hàng hoá ấy không khác gì nhau cả, thì người ta có thể nói một cách có căn cứ như nhau rằng: giá trị tương đối của một hàng hoá nào đó được đo bằng số lượng lao động bỏ vào trong đó; hay là: nó được đo bằng số lượng lao động mà nó có thể mua được; hay cũng có thể nói: nó được đo bằng số lượng lao động có thể mua được nó. Nhưng sự việc hoàn toàn không phải như thế. Giá trị của lao động không thể nào dùng làm thước đo cho giá trị cũng như là giá trị của bất cứ hàng hoá nào khác. Vài thí dụ cũng đủ để giải thích điều chúng ta vừa nói một cách rõ ràng hơn nữa.

    Nếu một muy1* lúa mì trị giá bằng hai ngày lao động chứ không phải là chỉ có một ngày, thì nó sẽ có gấp đôi giá trị ban đầu của nó: nhưng nó không hề huy động một số lượng lao động gấp đôi, bởi vì nó không chứa đựng nhiều chất bổ hơn trước kia. Như vậy, giá trị của lúa mì đo bằng số lượng lao động dùng để sản xuất ra nó sẽ tăng gấp đôi; nhưng nếu được đo bằng số lượng lao động mà nó có thể mua được, hay là bằng số lượng lao động dùng để mua nó, thì nó quyết không thể nào tăng lên gấp đôi được. Mặt khác, nếu cùng một lao động ấy mà sản xuất ra được gấp đôi quần áo so với trước kia, thì giá trị tương đối của quần áo đồng thời sẽ giảm đi một nửa; nhưng dù sao, số lượng quần áo gấp đôi ấy cũng không vì thế mà chỉ còn dùng một nửa số lượng lao động mà thôi, hay nói khác đi, cùng một lao động như thế cũng không thể nào mua được một số lượng gấp đôi quần áo; bởi vì một nửa số quần áo đối với người công nhân vẫn luôn luôn có công dụng như trước kia mà thôi.

    Cho nên, quy định giá trị tương đối của sản phẩm bằng giá trị của lao động là trái với các sự thật kinh tế. Như thế là vận động trong một cái vòng luẩn quẩn, là xác định giá trị tương đối bằng một giá trị tương đối khác, mà đến lượt nó, giá trị tương đối này cũng còn cần phải xác định nữa.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •