Trang 3 của 4 Đầu tiênĐầu tiên 1234 CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 31
  1. #21
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    10. Lý Luận Rập Khuôn Fallacy of Slippery Slope
    Lý luận rập khuôn (Slippery Slope là một cái dốc trơn. Fallacy of Slippery Slope có ý nghĩa rằng, như một người đang bị tuột dốc, lăn từ đầu này đến đầu kia mà không thể ngừng lại được. Trong lý luận, Fallacy of Slippery Slope có nghĩa rẵng, lý luận như một người bị tuột dốc, cho rằng khi một vấn đề xảy ra, những chuổi sự kiện khác sẽ lần lượt xảy ra. Ngụy biện này là tổng hợp của hai ngụy biện, ngụy biện tương đồng giả tạo và ngụy biện sai nguyên nhân. Ngụy biện liên kết sai vì nhận định một vấn đề sai (tương đồng giả tạo), rồi cho sự nhận định của mình đúng và đưa ra những ý kiến nhân quả. Nhưng nếu sự nhận định sai, thì ý kiến nhân quả đưa ra đâu có đúng. Và dù cho sự nhận định đúng (không vi phạm tương đồng giả tạo), thì sự nhận đính đó có phải ý kiến nhân quả hay không, là 1 chuyện khác cần phải chứng minh.) là một biến thể thú vị của sai lầm do sự tương đồng giả tạo và sai lầm do sai nguyên nhân. Có hai cách gọi khác để chỉ sai lầm này: tiền lệ xấu (bad precedent) và đầu nhọn của cái nêm (thin end of the wedge). Lập luận của nó phản đối lại một đề nghị hoặc một quan điểm trên cơ sở rằng: điều đó sẽ dẫn đến một tình thế chung tương tự như đề xuất hoặc quan điểm trên. Ví dụ sau đây là sự phản đối về việc Toà Án cho phép Đại học Georgia yêu cầu các giáo sư cho biết họ đã bỏ phiếu bầu hội đồng giáo viên như thế nào, là một điển hình cho loại sai lầm này: a. Quy định này giống như khởi đầu cho một thể chế chuyên quyền. Thẩm phán Owens đang vi phạm quy tắc bỏ phiếu kín bằng cách yêu cầu các thành viên trong khoa cho biết
    họ đã bỏ phiếu như thế nào. Tiếp theo chính phủ sẽ cấm việc bỏ phiếu kín trong các hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức dân sự, công ty, và cuối cùng là tổng tuyển cử. Người viết cho rằng quy định như vậy cần phải huỷ bỏ vì nó có thể tạo ra một tiền lệ xấu và có nguy cơ tạo ra một chuỗi sự kiện không mong muốn. Nhưng lý giải như người viết trên đây là sai lầm, vì họ tưởng rằng các cuộc bỏ phiếu là giống nhau và sự công khai ở cuộc bỏ phiếu này sẽ buộc dẫn đến sự công khai ở những cuộc bỏ phiếu khác. Nhưng vụ việc này và những vấn đề quan tâm kia có tương tự như người viết cho rằng hay không? Nếu không có sự tương tự, thì sẽ không đến hậu quả tương tự. Sự lo sợ ở đây là không có cơ sở. Lập luận này rất phổ biến trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Quả thực, hiếm có một ngày nào trôi qua mà không có một vài dòng trên báo chí bày tỏ mối lo sợ rằng nếu Việt Nam thất bại, sau đó sẽ đến Cam-pu-chia, rồi Thái Lan, Burma, Ấn Độ … và sự lo lắng như vậy cũng xảy ra trong cuộc xung đột ở Falklands, như trong đoạn sau:
    b. Thật là ngớ ngẩn khi đàm phán trung gian giữa Anh và Ác-hen-ti-na. Điều cần làm ở đây là hành động quân sự quyết liệt của Mỹ giúp Anh chiếm lại Falkland và trừng phạt Ác-hen-ti-na. Nếu không như vậy chúng ta sẽ mất Guantanamo, Guam, Virgin Island và Catalina. Ở đây, người viết đã tưởng tượng rằng chúng ta đang sai lầm và nếu chúng ta tiến thêm một bước nữa thì sẽ không thể dừng lại và sẽ bị trượt xuống sâu hơn. Nhưng chúng ta thường có thể dừng lại được, vì mọi thứ không phải giống như cái ván trượt và sẽ không dẫn đến hậu quả xấu có thể nhìn thấy trước. Mỗi tình thế mới phát sinh cần được đánh giá lại một cách phù hợp, chính xác. Nếu các sự vật thực sự tương tự nhau thì chúng sẽ dẫn đến hậu quả giống nhau. Do đó mỗi sự việc phải được xem xét một cách riêng rẽ để đánh giá mức độ tương tự, giống nhau của chúng. Lo ngại rằng chúng ta không thể dừng lại nếu chúng ta đã dẫm chân lên ván trượt không phải là một điều mới. Năm 1698, khi sách thánh ca được in ra cùng với các nốt nhạc, một tác giả trong thời báo New England đã nhận xét về phương pháp mới "hát theo quy tắc" như sau:
    c. Tôi thực sự e ngại rằng, một khi chúng ta hát theo quy tắc, điều tiếp theo là chúng ta cầu nguyện theo quy tắc, sau đó là giảng đạo theo quy tắc và cuối cùng là giáo hoàng quy tắc. Những sai lầm mà lập luận trên nêu ra và những gì nó gợi lên chắc chắn sẽ bị loại bỏ sớm. Đoạn viết sau đây xuất hiện trong một cuốn sách về dinh dưỡng:
    d. “Nếu các chuyên gia quyết định rằng chúng ta nên có chất floride trong trà, cà phê, nước cam vắt, nước chan, và trong từng tế bào của cơ thể, vậy thì chúng ta dự trữ gì cho ngày mai? Vậy vitamin C trong nước thì sao, nó được nhiều người cho là quan trọng hơn floride. Thế còn thuốc an thần để tránh những cơn rối loạn? Hoá chất hạn chế sinh sản được chuyển vào dòng nước đến một dân tộc gần chúng ta? Khi thời điểm đó đến, bạn có thể chắc chắn mọi thứ diễn ra làm bạn vừa lòng và vì sự an toàn của bạn." (David Reuben, Những Điều Bạn Muốn Biết Về Dinh Dưỡng). Một lần nữa, chúng ta tự hỏi những tình huống đề cập trên đây có sự tương đương. Nếu chúng ta chấp nhận dùng Floride và Vitamin C có làm chúng ta chấp nhận thuốc an thần và hoá chất hạn chế sinh sản hay không? Chẳng lẽ những tình huống đề cập trên đây không có sự khác nhau? Nếu có thì chúng ta cũng không thể lập luận như vậy. Bởi vì việc sử dụng Floride và vitamin C là tốt cho sức khoẻ mọi người, còn những cái kia lại không như vậy. Những lập luận như thế chỉ thuyết phục chúng ta bằng cách bỏ qua sự khác nhau cơ bản giữa các trường hợp được xem xét. • Sai lầm do lý luận khập khuôn là một biến thể của hai loại sai lầm đã được nói đến là: sự tương đồng giả tạo và nguyên nhân sai. • Khái niệm lý luận khập khuôn dùng để chỉ lập luận phản đối một quan điểm, tình thế trên cơ sở rằng nếu quan điểm, tình thế đó được áp dụng thì sẽ tạo ra một chuỗi phản ứng và cuối cùng sẽ dẫn đến những hậu quả không mong muốn. • Hãy thách thức lại những luận điểm như thế bằng cách đặt vấn đề: liệu các trường hợp được xem xét có thực sự giống nhau? Và chúng có dẫn đến hậu quả xấu có thể dự đoán mà không thể tránh khỏi hay không? TQ hiệu đính: Lý luận rập khuôn là cách chấp nhận một định đề nào đó không cần phán xét, và đồng thời cũng chấp nhận luôn ảnh hưởng nhân quả của định đề đó. Lý luận rập khuôn giống như lý luận do-mi-nô hay lý luận giây chuyền, như thể thấy trong thời chiến tranh Việt Nam “Nếu Việt Nam lọt vào tay Cộng Sản, rồi đến Miên, rồi Thái Lan, rồi Mã Lai, v.v… Và cả thế giới lần lượt lọt vào tay Cộng Sản”. Chưa chắc và bạn đang nằm mơ đó!

  2. #22
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    11. Luận Điểm Không Phù Hợp Fallacy of Irrelevant Thesis
    Một luận điểm là một quan điểm cụ thể về một chủ đề được hỗ trợ bằng các chứng cứ. Trong lo-gic, một luận điểm có thể tương đương với một kết luận. Sai lầm do luận điểm không phù hợp và một lập luận nhằm chứng minh một kết luận không nằm trong phạm vi được bàn đến. Sai lầm này sử dụng một dạng của lập luận, trong khi có vẻ như bác bỏ lập luận của người khác, thực tế thì đưa ra một kết luận khác với vấn đề mà lập luận của người khác đề cập đến. Trong loại lập luận sai lầm đã nghiên cứu thì không loại nào lừa gạt và thú vị như luận điểm không phù hợp. Có nhiều tên dùng để chỉ loại sai lầm này: kết luận không phù hợp, bỏ qua vấn đề, làm mờ nhạt vấn đề, đánh lạc hướng, và “cá trích đỏ”. Cá trích đỏ (red herring) có vẻ là một khái niệm nghe rắc rối. Nó xuất phát từ việc những người trốn tù thường làm bẩn mình bằng cá trích (loại cá này chuyển sang màu nâu hoặc đỏ khi thối rữa) để chó nghiệp vụ không thể đánh hơi được. Đánh lạc hướng là luận điểm dẫn dắt người đọc, người nghe đến những vấn đề không phù hợp với vấn đề được nói đến. Sai lầm do lập luận không phù hợp có được sức thuyết phục vì nó thường chứng minh một kết luận, một luận điểm (mặc dù không hề có liên quan). Ví dụ sau đây sẽ làm rõ điều này.
    a. Những người ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên nói rằng nếu chúng ta ban hành những quy tắc bảo vệ sẽ tốt hơn việc chúng ta không ban hành. Họ đã nhầm bởi vì, chúng ta dễ dàng nhận thấy là việc bảo tồn tự nhiên không tạo ra được một thiên đường trên trái đất.Hai vấn đề hoàn toàn khác nhau đã được đề cập trong vấn đề trên: (1) Liệu bảo tồn tự nhiên có cải thiện tình trạng hiện nay của chúng ta hay không; (2) Liệu bảo tồn tự nhiên có tạo ra được vườn địa đàng trên trái đất hay không? Bằng cách bác bỏ lập luận thứ hai thay vì lập luận thứ nhất, lập luận trên đây đã mắc sai lầm luận điểm không phù hợp. Luận điểm có vẻ thuyết phục, thứ nhất bởi vì điều nó nêu ra chúng ta cảm thấy đúng: không biện pháp bảo tồn tự nhiên nào có thể bảo đảm một vườn địa đàng. Chúng ta sẽ bị thúc đẩy bỏ qua ý nghĩ rằng bảo tồn là công việc đáng làm.Điều này là sai lầm, vì vấn đề ở đây là liệu bảo tồn tự nhiên có phải là lựa chọn tốt nhất của chúng ta hay không. Ví dụ này minh hoạ rất tốt chủ ý thường thấy trong các lập luận. Ví dụ trên là điển hình của lý luận “người rơm” (strawman argument) bằng cách bóp méo quan điểm theo cách này hay cách khác, làm cho nó trở nên lố bịch, buồn cười và dễ dàng bị phủ nhận. Nếu luận điểm đối lập nhằm bảo vệ một quan điểm cực đoan hơn quan điểm ban đầu, chắc chắn những luận điểm ấy sẽ thất bại. Mặc dù đây là thủ thuật phổ biến trong tranh luận, nhưng đó là một điều dối trá. Không phải tất cả mọi sai lầm do lập luận không phù hợp đều xuất phát từ ý định muốn bóp méo vấn đề. Có thể bị áp lực về thời gian, thiếu sự suy xét độc lập chúng ta có thể xem một yếu tố nhất định là phù hợp, nhưng trong hoàn cảnh khác chúng ta lại không nghĩ như thế. Trong ví dụ sau đây, sự thật bị bóp méo lại là một việc không có chủ ý:
    b. Tôi không hiểu tại sao đi săn lại được xem là độc ác khi mà chúng mang lại thú vui cho nhiều người và thậm chí mang lại việc làm cho một số người khác. Chỉ cần xem xét qua chúng ta có thể thấy rằng việc đi săn mang lại thú vui và công việccho ai đó không phù hợp với vấn đề đi săn là độc ác đối với loài thú. Nếu là không phù hợp thì luận điểm đi săn là độc ác chưa hề được bàn luận. Nếu không bàn luận đến tức là bóp méo vấn đề. Như trong nhiều ví dụ mà chúng ta đã xem xét, luận điểm này đã tránh đưa ra những phản chứng (rằng đi săn là độc ác đối với loài thú) và chứng minh điều không được bàn đến (đi săn là có ích cho mọi người). Giống như một người gặp phải rắc rối sẽ đứng dậy và bỏ chạy, trong lập luận một người gặp khó khăn hoặc điều gì không thoải mái thì cách lý giải vấn đề của họ là che dấu vấn đề bằng một vài điều không phù hợp. Điển hình nhất là vị công tố viên cố gắng thuyết phục ban hội thẩm rằng hành vi của bị cáo là có tội bằng cách lập luận rằng giết người là tội phạm khủng khiếp. Bởi vì không có gì có tác động thư giãn con người bằng tiếng cười, nên chúng ta không ngạc nhiên khi sai lầm do nguyên nhân không phù hợp lại được sử dụng như một tác nhân gây cười, hãy xem xét ví dụ sau, câu truyện cổ về vụ ăn trộm một con lợn:
    c. "Nào, Patrick," quan toà nói. "khi anh m ặt đối mặt với goá phụ Maloney và con lợn của bà ta vào ngày phán xử, anh sẽ nói gì để biện hộ cho mình khi bà ta đã buộc tội anh đã ăn trộm con vật bé nhỏ đó?" "Ngài nói rằng con lợn sẽ ở đó phải không?" Patrick nói. "Nếu thế tôi sẽ nói: thưa bà Maloney, con lợn của bà đây!" Lập luận kiểu này nghe thật buồn cười, nhưng sai lầm tương tự lại có thể nguy hiểm chết người, như Susan Stebbling đã làm trong phân tích của cô về việc cuộc tranh luận ở nghị viện Anh với vấn đề xuất khẩu súng, được so sánh với việc xuất khẩu kẹo giòn cho trẻ con:
    d. Ngài PHILIP: Ngài không nghĩ rằng hàng hoá của ngài là rất nguy hiểm, độc hại không giống như những thanh sôcôla hay kẹo ngọt sao?
    Ngài CHARLES: Không, hoặc đó chỉ là chuyện trong tiểu thuyết thôi.
    Ngài PHILIP: Ngài không nghĩ rằng xuất khẩu những hàng hoá này là nguy hiểm hơn việc xuất khẩu những thanh kẹo sao?
    Ngài CHARLES: Ồ, tôi gần như quên mất kẹo trong ngày Giáng Sinh, nhưng tôi không bao giờ làm thế đối với một khẩu súng cả. Như Stebling chỉ ra, cách trả lời của Ngài Charles đã chuyển hướng khỏi vấn đề bằng cách gây cười. "Người nghe có thể vui lòng đồng ý rằng có ai đó 'hầu như đã quên kẹo Giáng sinh' mặc dù anh ta chưa bao giờ nguy hiểm với một khẩu súng. Nhưng kẹo không được làm ra với mục đích này, trong khi đó vũ khí được làm ra chỉ với mục đích giết người, sát thương, phá huỷ. Và đó chính là những vũ khí được bàn đến" (Nghĩ Về Mục Đích, Harmondsworth: Penguin Books, 1939, trang 196). Những cách làm mờ nhạt vấn đề như vậy có thể bị bác bỏ bằng câu nói đơn giả sau: "có lẽ đúng, nhưng không phù hợp." Câu phản biện đơn giản, sắc bén sẽ đem người nghe trở lại vấn đề đang bàn đến và có thể gạt bỏ được những lời bóp méo sự thật kia.
    • Luận điểm không phù hợp là luận điểm nhằm chứng minh hoặc bác bỏ một "giả thuyết", "kết luận", đôi khi thành công, mà không phù hợp với vấn đề đang nói đến.
    •Để phản biện lại những luận điểm như vậy, cách tốt nhất là nói câu đơn giản sau: đúng, nhưng không phù hợp.
    Thủ thuật thường được sử dụng ở đây là gán cho những ý kiến đối lập một thái độ cực đoan hơn những ý kiến mà họ đưa ra để bảo vệ. Biến thể này đôi khi được gọi là "lập luận người rơm,” một lập luận mà những người phản đối đã xây dựng lại theo cách làm cho nó dễ dàng bị bác bỏ.

  3. #23
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    105
    2. Kêu Gọi Đám Đông[51]

    Sai lầm về sự kêu gọi đám đông[52] là kiểu lý lẽ trong đó người ta kêu gọi tình cảm, đặc biệt là cảm giác quyền lực mà có thể thống trị con người trong những đám đông. Còn có tên gọi là "quyến rũ nhiều người"[53], loại sai lầm này đem lại sự chấp nhận thiếu suy nghĩ của con người đối với những ý kiến được trình bày theo cách mạnh mẽ và không tự nhiên. Sự kêu gọi quần chúng thường được nói đến là kêu gọi những bản năng thấp nhất của chúng ta, bao gồm cả những bản năng bạo loạn của chúng ta. Ngôn ngữ của những sự kêu gọi đám đông đó có xu hướng ảnh hưởng mạnh mẽ, tận dụng nhiều lối sai lầm về ngôn ngữ chúng ta đã nghiên cứu trước đây trong cuốn sách này. Thực sự là phần lớn các ví dụ về kêu gọi quần chúng liên kết với các loại sai lầm khác, kết hợp vào thành một lý lẽ dựa chủ yếu vào một phản ứng tình cảm hơn là một phản ứng có tính thuyết phục. Bằng cách làm như vậy, những lý lẽ như thế liên quan đến sự sai lầm thiếu xác thực bởi vì chúng đã không nói đến vấn đề đang được tranh luận mà thay vào đó chọn cách hướng chúng ta đến một kết luận bằng tình cảm hơn là lý trí.

    Ví dụ dưới đây về sự kêu gọi quần chúng lấy từ nhà văn Westbrook Pegler, một nghiệp đoàn cung cấp quyền lợi chính trị.
    a. Mayor LaGuardia -- bản thân là một thành viên hay gây làm ồn trong một đám đông được biết đến như là phong trào lao động, nhất định phải biết rằng những kẻ ăn bám xấu xa nhất, những kẻ trộm và ăn cướp bánh mì hiện giờ đang hành nghề tại nước Mỹ, và đặc biệt tại thành phố New York, là những kẻ cướp của nghiệp đoàn. Chúng đứng đầy trước cổng nghiệp đoàn; chúng thậm chí còn cướp bóc những nhân viên trong cơ quan để tiếp đãi những tên trong bọn dưới sự bảo trợ của USO và vì vậy chúng còn ăn cắp của những võ sĩ quyền anh nhà nghề - những người mà USO gây quĩ bảo trợ. Trên khắp đất nước, chúng đặt bàn tay nhơ bẩn của mình vào những gia đình nghèo và ăn trộm bánh mì, giầy dép của những đứa trẻ trong các gia đình lao động người Mỹ cực nhọc, không nơi nương tựa. LaGuardia chưa bao giờ nói một lời lên án những việc trộm cắp như vậy. Với công ty của mình cùng với hoạt động của nghiệp đoàn, ông ta đã tán thành hệ thống cướp bóc này.

    Mặc dù đoạn văn này đọc nghe có vẻ như nó xảy ra một cách bộc phát, nhưng thực ra nó là kết quả của một mưu mẹo hết sức cẩn thận. Pegler không thành công trong việc hướng vào vấn đề đang được tranh cãi -- liệu hoạt động của nghiệp đoàn có phải là cướp bóc hay không và bằng cách nào. Đúng hơn là, ông ta đã dùng thứ ngôn ngữ "bốc" rất phù hợp để đưa ra một kết luận ông ta mong muốn. Mayor LaGuiardia được miêu tả như là một thành viên lao động ồn ào mà không chỉ bận rộn. Hoạt động lao động đó được biết đến chỉ đơn thuần là như vậy; Pegler cho rằng trên thực tế đó là một đám gian lận cướp bóc các gia đình lao động người Mỹ cực nhọc không nơi nương tựa và con cái của họ.

    Những thành viên nghiệp đoàn như vậy là loại người như nào chứ? Pegler không bao giờ dùng những từ trực tiếp, nhưng những từ như trộm bánh mì, cướp bóc, nhúng bàn tay dơ bẩn của chúng vào các gia đình nghèo khổ và ăn trộm bánh mì, để mặc trộm cướp cho thấy rằng Pegler so sánh những thành viên nghiệp đoàn với những con chuột bẩn thỉu.

    Đây là đoạn văn trích từ tạp chí Cộng Sản New Masses (19 tháng 3, năm 1946) nhằm chống lại Thủ Tướng Anh Winston Churchill sau bài nói nổi tiếng "Rèm Sắt" tại trường đại học Westminster ở Missouri:
    b. Winston Churchill - tổng thư ký của Đảng Bảo Thủ, đã đến và nói chúng ta sẽ sống như thế nào. Cuộc sống mà ông ta chỉ cho chúng ta là gì? Một sự chuyên chế kiếu Anh-Mỹ áp chế cả thế giới. Ông ta nói rằng ông ta muốn sát nhập quân đội và hải quân và chống lại chủ nghĩa cộng sản. Đúng là lời lẽ thì của Churchill nhưng kế hoạch là của Hitler. Lãnh địa cướp của Churchill tại biên giới đang bị chia cắt và ông ta đề nghị người Mỹ bảo vệ nó cho ông ta. Chúng ta phải là những người hành động nhanh và chúng ta phải cung cấp cho ông ta hàng tỉ đô la để dành lại những gì mà những tên trùm cướp bóc bị mất.

    Trong đoạn văn của Pegler, những cụm từ như trấn áp, lãnh địa cướp được, những người hành động nhanh, trùm cướp bóc nối theo nhau rất chặt chẽ. Chúng được đưa ra để bổ sung vào cách diễn tả Churchill như một tên cướp. Người viết không nói rằng những đề đạt của Churchill là chính xác và liệu trên thực tế những gì ông ta đề đạt có mang lại lợi ích cho nước Mỹ hay không.

    Kiểu viết tố cáo này không giới hạn đối với những người có động cơ có thể từ bỏ điều gì đó mong muốn. Một vài bài nói nổi tiếng đã dùng đến phương sách này, đáng chú ý là bài nói nổi tiếng "Cây Thánh Giá Của Đức Chúa" của William Jennings được trình bày tại hội nghị chính trị vào thời điểm chuyển giao thế kỷ. Bài nói của Brian đã phản đối việc giữ bản vị vàng và chế độ hai bản vị được ưa chuộng.
    c. Chúng ta không quan tâm tới việc trận chiến đang ngả về phía nào. Nếu chúng ta cho rằng chế độ hai bản vị là tốt, nhưng chúng ta không thể có nó cho đến khi các quốc gia khác giúp đỡ chúng ta. Chúng ta trả lời rằng, thay vì giữ bản vị vàng bởi nước Anh làm như vậy, chúng ta sẽ khôi phục chế độ hai bản vị, và sau đó sẽ để nước Anh giữ chế độ hai bản vị bởi nước Mỹ làm như thế. Nếu họ thách thức đánh nhau và bảo vệ bản vị vàng như là một thứ quí giá, chúng ta sẽ chiến đấu với họ đến cùng. Cuối cùng, chúng ta là đa số các dân tộc và toàn thế giới, được ủng hộ bởi quyền lợi kinh tế, quyền lợi lao động và những người lao động ở khắp mọi nơi, chúng ta sẽ đáp lợi yêu cầu của họ về bản vị vàng bằng cách nói với họ: Các anh sẽ không ấn lên trán của người lao động vòng hoa đầy gai này, các anh cũng sẽ không đóng vào con người một dấu thập ác bằng vàng.

    Khi kết thúc bài nói này, Brian vươn cánh tay mình ra như thể xuyên qua một cây thánh giá. Sau đó ông ta bỏ tay xuống và đưa về phía sau. Trong một vài giây toàn bộ người nghe sững sờ, im phăng phắc. Sau đó không khí im lặng giảm dần và mọi người hoan hô ầm ầm. Những người ủng hộ Brian -- một nghị sĩ 36 tuổi, nhấc bổng ông ta trên vai và diễu ông ta khắp hội trường. Ban nhạc chơi hành khúc Sousa. Ngay ngày hôm sau, hội nghị đã chỉ định Brian làm chủ tịch.

    Sự kêu gọi quần chúng là sự sai lầm bởi những lý lẽ này dựa trên những tình cảm bị khuấy động của người nghe.
    d. Chính tôi là một người lao động và tôi biết phải vất vả đến mức nào để có được ngày hôm nay.
    e. Vì anh giáo sư của một trường đại học, tôi biết rằng tôi có thể nói cho anh nghe những vấn đề khó khăn một cách nghiêm túc.
    f. Không ai trong phòng này phủ nhận việc phải giáo dục trẻ nghiêm túc. Nhưng hãy nhớ rằng đây là trường của chúng ta và nó thuộc về con cái của chúng ta.

    Kêu gọi quần chúng là cách hướng về tình cảm của đám đông mà họ đang nhắm tới, hoặc họ có thể tâng bốc đám đông, hoặc kêu gọi sự thiên vị của quần chúng. Họ cũng lợi dụng nhu cầu cần thiết của chúng ta để cảm nhận rằng chúng ta thuộc về một nhóm nào đó, bất kể nhóm đó có tồn tại hay không, và thế là nhóm đó thuộc về lẽ phải. Khi chúng ta đọc bài viết của Pegler, chúng ta cảm thấy rằng chúng ta phải đứng về phía ông ta (chống lại LaGuardia và người lao động) và thuộc về nhóm người đang bị chửi rủa và phỉ báng. Sự kêu gọi quần chúng tạo ra một kịch bản mà trong đó chúng ta thật khó có thể diễn tả quan điểm chống đối, bởi vì làm như vậy là thách thức "đám đông" và sẽ bị loại trừ hay xa lánh. Sự kêu gọi quần chúng đem lại cho chúng ta cảm giác hơn là sức thuyết phục lý trí của một luận điểm. Những cảm giác, tuy nhiên không thể tạo nên bằng chứng cho sự thật của một kết luận.

    Bài điếu văn nổi tiếng của Mark Antony trước xác của Caesar trong tác phẩm Julius Ceasar của William Shakespeare (cảnh 3, chương 2) là một ví dụ tuyệt vời về sự kêu gọi quần chúng. Bài điếu văn đã đáp lại sự chú ý bởi những kỹ xảo mà nó dùng là niềm tin nghề nghiệp của những người tryền giáo và căm ghét sự buôn bán. Antony đã được quyền đọc bài điếu văn bởi vì kẻ ám sát Ceasar tin rằng anh ta sẽ đề cập đến vụ giết người một cách thông cảm. Đám đông đã được Brutus diễn thuyết đầu tiên. Ông ta là người sợ rằng Caesar, người đang chuẩn bị để trở thành người có quyền hành tuyệt đối tại thành Rome, đã âm mưu với những kẻ khác giết Caesar. Brutus thuyết phục đám đông rằng anh ta giết Caesar vì thành Rome tươi đẹp, và đám đông than phiền rằng Brutus có thế sẽ trở thành Caesar tiếp theo. Nhưng Brutus đã bắt mọi người phải im lặng và thuyết phục họ nghe Antony ca ngợi người lãnh đạo Caesar đã chết. Antony, thay vào đó, dùng những cơ hội để kích động đám đông chống lại Brutus và những kẻ đồng mưu, làm như vậy với một kỹ thuật mà chỉ trong một thời gian ngắn, biến quần chúng thành những người nô lệ sẵn sàng cho âm mưu của ông ta.
    · Sự kêu gọi quần chúng là một sai lầm trong đó người ta cố gắng khích động mọi người phản ứng theo một cách nào đó bằng cách sử dụng những lời nói có thế khuấy động những cảm xúc mạnh mẽ.
    · Những kỹ thuật được sử dụng bao gồm: biểu lộ tư tưởng cao, lòng yêu nước, nói bóng gió, mỉa mai, lặp lại, nói dối trắng trợn, *.*.
    · Mặc dù những sự kêu gọi như vậy thường có vẻ như là chân thành và diễn tả tình cảm sâu sắc một cách tự phát, trong phần lớn các trường hợp, chúng là kết quả của mưu mẹo cẩn thận nhất.

    [51] Fallacy of Mob Appeal
    [52] Tên Latinh là argumentum ad popolum, có nghiã đen là "kêu gọi mọi người". Giống như nghĩa của từ popular, thuật ngữ populum có hàm nghĩa nhất định chỉ sự chấp thuận của đại đa số mà không cần suy xét có suy nghĩ.
    [53] appeal to the massses
    [54] Fallacy of Appeal to Pity

  4. #24
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    182
    3. Kêu Gọi Lòng Thương[54]

    Sai lầm về sự kêu gọi lòng thương giống với kiểu sai lầm kêu gọi quần chúng mà trong đó lý lẽ được đưa ra để thu hút mọi người về phía mình bằng cách lợi dụng tình cảm của họ. Nó khác với sự kêu gọi quần chúng ở chỗ nó lợi dụng một loại tình cảm đơn lẻ -- đó là sự cảm thông, có nghĩa là lý lẽ hướng vào tình cảm thương hại của chúng ta.

    Loại sai lầm này rất phổ biến. Tuy nhiên nó cũng tồn tại từ lâu đời bởi chúng ta biết nó đã được đề cập đến trong Lời Biện Bạch của Plato miêu tả một vụ sử án vào năm 300 sau Công nguyên của Socrate - thầy giáo của Plato. Nói với quan tòa, Socrate nói:
    a. Có thể có ai đó giận tôi khi anh ta gợi lại trong óc rằng bằng cách nào, chính anh ta, trong những trường hợp tương tự và thậm chí nghiêm trọng hơn, khóc lóc cầu xin và khẩn nài quan tòa, anh ta đưa những đứa con của mình ra trước tòa như thế nào - một cảnh tượng đáng mủi lòng, cùng với nhiều người thân và bạn bè; trái lại, tôi - ngưòi đang gặp nguy hiểm, sẽ không bao giờ làm bất cứ một việc nào như thế.

    Bất chấp việc Socrate từ chối dùng sự kêu gọi lòng thương cảm, ông ta tiếp tục làm rõ tác dụng của nó.
    b. Sự mâu thuẫn có thể diễn ra trong đầu anh ta, và anh ta có thể chống đối tôi và giận dữ bởi vì anh ta không hài lòng với tôi về vấn đề này. Bây giờ nếu có một người như thế trong số các anh thì hãy nhớ, tôi sẽ không nói là có. Tôi sẽ trả lời anh ta một cách thẳng thắn: Các bạn, tôi là một người như bao đàn ông khác, một sinh vật bằng xương bằng thịt, và không phải là "đá hay gỗ" như Homer nói; Tôi có gia đình, vâng, cả con cái nữa - Ba đứa tất cả: một đứa đã gần trưởng thành, còn hai đứa vẫn nhỏ; tuy vậy tôi cũng sẽ không mang chúng đến đây để cầu xin anh cho tôi được tha bổng.

    Ở đây, việc Socrate dùng cách kêu gọi lòng thương xót là thật khôn khéo. Sau đây là một ví dụ thẳng thắn được luật sư về tội phạm nổi tiếng Clarence Darrow trình bày trước tòa.
    c. Các ông nghĩ rằng tất cả những người thành thị chúng tôi đều không thật thà, nhưng những người thành phố chúng tôi lại nghĩ những nông dân các ông mới là như vậy. Không ai trong số các ông được tôi tin trong việc mua bán ngựa, bởi vì các ông chắc chắn bốc lột tôi. Nhưng khi thông cảm với một người đang gặp rắc rối thì tôi sẽ tin các ông là những người thành phố vì các ông hiếu biết con người tốt hơn và nhanh chóng trở thành những người bạn Tốt. (Trích trong Irving Stone, Clarence Darrow Bảo Vệ: Tiểu Sử. New York: Doubleday & Co., 1941, p.23.)

    Lý lẽ của Darrow biện hộ cho sự thông cảm bằng cách kêu gọi thiện chí bẩm sinh của ban hội thẩm. Điều rắc rối với những sự kêu gọi như vậy là ở chỗ bất kể chúng đáng mủi lòng đến thế nào thì chúng cũng có thể không xác đáng với vấn đề đặt ra và trong trường hợp như vậy chúng không có sức thuyết phục với chúng ta. Trong tất cả các loại sai lầm về sự xác đáng, chúng ta cần biết rõ câu hỏi và trọng điểm của lý luận. Bởi vậy sẽ là sai lầm nếu một luật sư bào chữa khi đưa ra bằng chứng về số phận đáng tiếc của bị cáo như là một lý do khiến tòa án công nhận anh ta là vô tội. Mặt khác, sẽ là không là sai lầm khi một luật sư đưa ra bằng chứng như vậy làm lý do để sử phạt tội phạm một cách nhân hậu.

    Giống như nhiều loại sai lầm mà chúng ta đã xem xét, sự kêu gọi lòng thương đã được các nhà quảng cáo khai thác. Một ví dụ đáng tiếc là một bài quảng cáo đã được một nhóm các nhà kinh doanh truyền hình đưa lên cả một trang vào năm 1950 khi truyền hình bắt đầu được sản xuất hàng loạt.
    VÀI ĐIỀU CON CÁI KHÔNG NÓI VỚI CHÚNG TA
    " Nào, Bố, tại sao bố không mua một chiếc tivi?" Bạn đã nghe thấy điều đó. Nhưng có nhiều điều nữa mà bạn sẽ không nghe thấy được. Bạn có mong đợi một đứa trẻ bảy tuổi nói về những tình cảm cô đơn sâu sắc mà cậu ta cảm thấy không? Đứa trẻ có thể phàn nàn: " Bọn trẻ bủn xỉn lắm và chúng không chơi với con nữa!
    Bạn có xem con mình thốt ra sự thật rằng cậu ta thực sự xấu hổ khi chơi với lũ trẻ đó, rằng cậu ta bị bỏ rơi vì không xem những chương trình tivi mà lũ trẻ xem, không biết những điều mà bọn trẻ biết?
    Bạn có thể nói cho ai đó về ngón tay bị bầm tím. Làm sao mà một cô bé có thể miêu tả một vết bầm tím bên trong cơ chứ? Không, con gái của bạn sẽ không bao giờ nói cho bạn biết về sự bẽ mặt mà nó cảm thấy khi nó khẩn cầu một người hàng xóm được xem những giờ tivi quí giá.
    Bạn dành cho con bạn tất cả ánh sáng mặt trời, không khí trong lành và các chất vitamin mà bạn có thể có. Thế còn ánh sáng cho tinh thần của nó thì sao? Vitamin cho trí óc của nó thì sao? Các nhà giáo dục cho rằng tivi là tất cả và hơn thế cho một đứa trẻ phát triển.
    Khi tivi đối với đứa trẻ có ý nghĩa hơn là sự giải trí một mình thì bạn có thể nhất định không mua một cái cho gia đình mình nữa không?"

    Nhiều người thấy rằng lời quảng cáo này là không tốt và nó đã nhanh chóng bị rút khỏi chương trình. Quảng cáo trên tivi hiện nay có vẻ phần nào tế nhị hơn, nhưng những lời kêu gọi sự thông cảm vẫn còn dai dẳng, như là trong một khẩu hiệu nổi tiếng về xe ô tô Avis Rental: "Chúng tôi là số hai."
    · Cũng như sự kêu gọi quần chúng, sai lầm về sự kêu gọi lòng thương cố gắng đi ngắn nhất đến sự suy nghĩ của chúng ta bằng cách khai thác tình cảm thương xót hoặc cảm thông của chúng ta.
    · Đó là phương tiện được ưa chuộng của các luật sư bào chữa và các nhà quảng cáo. " Liệu một đứa trẻ lên tám tuổi có nên lo lắng về cholesterol hay không?"

    [54] Fallacy of Appeal to Pity

  5. #25
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    8
    4. Kêu Gọi Quyền Lực[55]

    Chúng ta kêu gọi chuyên gia[56] khi chúng ta cố gắng biện hộ cho một ý kiến bằng cách trích dẫn một vài nguồn về ý kiến chuyên môn nhằm coi nó như là lý do để bảo vệ ý kiến đó. Những sự kêu gọi chuyên gia thường là có căn cứ, bởi chúng ta bảo ai đó dùng một loại thuốc nào đó là vì bác sĩ đã kê đơn cho chúng ta. Nhưng sự kêu gọi chuyên gia có thể là sai lầm khi chúng ta viện đến người không có khả năng chuyên môn để đánh giá vấn đề này. Ngụy biện về sự kêu gọi chuyên gia, do vậy, là lý lẽ cố gắng khiến đối thủ chấp nhận một kết luận bằng cách lợi dụng sự miễn cưỡng thừa nhận những người nổi tiếng, những phong tục được tôn trọng do lâu đời hoặc những niềm tin có ảnh hưởng rộng lớn. Sự sai lầm, về cơ bản là kêu gọi tình cảm khiêm tốn của chúng ta, cảm giác của chúng ta mà người khác biết rõ hơn chúng ta.
    Quyền lực của cái duy nhất[57]

    Có vẻ rõ ràng rằng một người giỏi về vật lý hay kinh doanh không thể tự nhiên làm cho anh ta có thể trở thành một chuyên gia về chính trị hoặc trồng trọt. Tuy nhiên những ví dụ về sự kêu gọi quyền lực của cái duy nhất hiện diện rất nhiều trong các cuộc thảo luận hàng ngày cũng như trong các cuộc tranh cãi qui mô lớn hơn.
    a. Ý nghĩ hỗ trợ nghiên cứu về cá heo thật là nực cười. Chúng ta đã bàn luận về nó trong bữa trưa ngày hôm nay. Và cả người đứng đầu công ty lẫn giám đốc nhân sự đều đồng ý rằng đó là một khoản lãng phí lớn.

    Trừ khi có ai đó hiểu biết về những chi tiết của một nghiên cứu cá heo, ý kiến của anh ta về vấn đề đó không thể được coi có uy tín và phải bị huỷ bỏ bởi nó không xác đáng với vấn đề đang đặt ra. Thậm chí các chuyên gia cũng không hỏi rằng ý kiến của họ có nên được chấp thuận hay không bởi vì họ nói như vậy mà bởi vì những ý kiến đó có được luôn có bằng chứng.

    Con người, và cụ thể là khoa học thỉnh thoảng phải trả những giá quá đắt cho sự kính trọng quyền lực đã ăn sâu vào tiềm thức họ. Lý lẽ sau bảo vệ cho lý thuyết về Hệ Mặt Trời của Ptolemy trước lý thuyết của Corpernicus là một trong số vô vàn ví dụ có thể tìm được trong lịch sử khoa học.
    b. Một người có thể lưỡng lự không biết nên theo Ptolemy hay Copernicus bởi cả hai đều phù hợp với những hiện tượng được quan sát. Nhưng nguyên tắc của Copernicus chứa nhiều sự xác nhận vô lý. Ví dụ như ông ta cho rằng Trái đất chuyển động theo sự vận động 3 lần -- điều mà tôi không thể hiểu được. Bởi theo các nhà triết học, một cơ thể bình thường cũng giống như Trái đất chỉ có thể vận động đơn giản. Do vậy theo tôi có vẻ như học thuyết địa tâm của Ptolemy đáng đựơc chấp nhận hơn là của Copernicus. (Clavius, 1581)

    Tuy nhiên học thuyết của Copernicus thì tồn tại còn của Ptolemy thì không. Những cụm từ như theo các nhà triết học xuất hiện thường xuyên trong các tác phẩm của thậm chí những nhà khoa học giỏi nhất trong suốt thời kỳ Phục Hưng, làm bằng chứng cho việc đấu tranh giữa khoa học và quyền lực. Một lá thư trong giai đoạn này của nhà thiên văn học người ý Galilê gửi cho người đồng nghiệp người Đức Johannes Kepler đã nêu lên vấn đề này. Galilê đã sử dụng kính thiên văn đầu tiên, nhưng những người có quyền lực lại từ chối điều đó.

    Quyền lực trong một lĩnh vực không nói đến quyền lực trong các lĩnh vực khác.
    c. Ôi Kepler yêu quí, tôi mong ước làm sao chúng ta có thể được cười thoải mái cùng nhau! Tại đây ở Padua, một giáo sư triết học hàng đầu - người mà tôi yêu cầu rất nhiều lần và cấp bách phải quan sát mặt trăng và các hành tinh qua kính của tôi, điều mà ông ta đã nhất định từ chối. Tại sao anh không có mặt ở đây cơ chứ? Làm sao mà chúng ta không cười vào điều vinh quang điên rồ này chứ! Để nghe giáo sư triết học Pisa trình bày trước công tước quan trọng với những lý lẽ lô-gic, như là sử dụng những câu thần chú ma thuật làm hấp dẫn những hành tinh mới bên ngoài bầu trời. ( Trích trong Elma in Elma Enrlich Levinger, Galile, Nhà Quan Sát Đầu Tiên Về Những Vật Vĩ Đại. New York: Julian Messner, 1961, p.84)

    Đối mặt với những truyền thống cứng nhắc, thật chảng có gì đáng ngạc nhiên khi một vài nhà khoa học và các viện chấp thuận thuật ngữ: "Quyền lực không có nghĩa là gì cả."

    Nếu khoa học hiện đại đã tự giải phóng ra khỏi sự kêu gọi quyền lực thiếu xác đáng để vươn tới một phạm vi to lớn thì một vài lĩnh vực của xã hội chúng ta vẫn còn phải bám vào các khái niệm của các chuyên gia, những báo cáo của báo chí đều mắc phải những cụm từ như "nguồn gốc chính thức giám định …" hoặc "một người giấu tên đã xác định …" mà không nói rõ ra người giấu tên đó là nguyên thủ quốc gia hay người bán vé số rong.
    Quyền lực của số đông[58]

    Nước Mỹ hiện thời có vẻ đặc biệt thiên về kiểu nguỵ biện kêu gọi quyền lực được biết đến như là lý lẽ của sự bằng lòng[59] hay sự kêu gọi quyền lực của số đông. Sự kêu gọi số đông -- hình thức sai lầm này được sử dụng rộng rãi trong quảng cáo, nơi mà việc hàng triệu người dùng một sản phẩm nhất định nào đó được coi là lý do để mua nó.
    d. Ở Philadelphia hầu như tất cả mọi người đều đọc cuốn Bulletin.
    e. Sony. Cứ hỏi bất cứ người nào.
    f. Năm ngoái hơn 5 triệu con mèo đã chuyển tới Tender Vittles.

    Những lời kêu gọi như vậy dường như muốn nói rằng một cuốn sách nhất định phải là hay bởi vì nó được bán chạy, hoặc một bộ phim mà mọi người trên toàn quốc đang xếp hàng lũ lượt để được xem nhất định phải là một bộ phim hay. Cuốn sách hay bộ phim đó có thể thành công, nhưng sự thành công đó là không xác đáng về mặt giá trị.

    Khi cựu nghị sĩ George Smathers của Bang Florida có lời buộc tội dưới đây, ông ta dùng rất nhiều người có quyền lực để ám chỉ rằng lý lẽ của mình không thể bác bỏ được ngay từ lúc đầu.
    g. Tôi có sự ủng hộ của 2 Tổng Thống, 27 Nghị Sĩ, và 83 Dân Biểu để miêu tả Drew Pearson như là một tên đại nói dối.

    Tuy nhiên trong tất cả các trường hợp sai lầm kiểu này, việc nhiều người đồng ý với một kết luận nào đó đều không làm nó trở nên đúng đắn.

    Hiên nay, mặc dù hình thức kêu gọi quyền lực là đại chúng nhưng nó cũng đã có từ lâu rồi. Vào đầu thế kỷ này, nhà triết học người Ý Benedetto Croce đã phân tích sự khủng khiếp của toà án dị giáo Tây Ban Nha dựa theo lý lẽ đồng lòng.
    h. Toà Án Dị Giáo phải chân thực và đem lại lợi ích nếu tất cả mọi người đều kêu gọi và ủng hộ nó, nếu mọi người có tâm hồn cao thượng thiết lập nó và tạo ra nó một cách riêng biệt và công bằng, và chính những đối thủ của nó vận dụng nó vì riêng bản thân họ, giàn thiêu đáp lại giàn thiêu. (Triết Lý Của Thực Tế, Douglas Ainslie. London: Macmillan, 1913, trang 69-70)

    Rõ ràng là việc nhiều người ủng hộ Toà Án Dị Giáo không làm cho nó trở nên đúng đắn. Lâu đời hơn còn có một lý lẽ trong sử biên niên thời kỳ đầu của nước Anh:
    i. Nếu việc đề xuất là có cơ sở, người Xắc-xông có thông qua nó hay không? Liệu người Dale có lảng tránh nó hay không? Liệu nó có thoát khỏi sự khôn ngoan của người Norman không?

    Lý lẽ của cuốn sử biên niên là sai trái, khi nó gợi ý những điều các chủng tộc khác có thể làm hoặc không, vì giá trị của lời đề xuất không phụ thuộc vào sự ủng hộ hay phản đối của các chủng tộc khác nhau. Như những người mẹ thường nói với con cái họ, "Nếu những bà mẹ khác cho con mình nhảy lầu, thì mẹ cũng làm thế à?"

    TQ hiệu đính: quí vị cần phân biệt giữa số lượng và chất lượng. Một lý luận có chất lượng là một lý luận đúng; một đề án có chất lượng là một đề án hay. Nhiều người đồng ý và thích một lý luận không chứng minh được một lý luận hay một đề án đó đúng. Lịch sử đã chứng minh điều này rất nhiều. Một thời, hơn 1/2 dân số trên trái đất (Trung Quốc, Đông Âu, Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn *.*...) tin rằng lý thuyết Karl Marx đúng, nhưng qua thời gian thì sự việc đã rõ, lý thuyết kinh tế thị trường hữu dụng hơn!
    Quyền lực của số ít được lựa chọn[60]

    Vì chúng ta nên chống lại việc chấp nhận lời kêu gọi quyền lực của một chuyên gia hoặc của một nhóm chuyên gia, chúng ta cũng phải có khả năng nhận ra những lời kêu gọi quyền lực của số ít được lựa chọn. Thỉnh thoảng cái được gọi là sự hấp dẫn đua đòi[61] -- kiểu nguỵ biện kêu gọi quyền lực này lợi dụng tình cảm của chúng ta rằng chúng ta là những người quý tộc có lương tâm, rằng chúng ta không thuộc về số đông mà thuộc về số ít được lựa chọn. Việc sử dụng những tính cách tuyệt vời để quảng cáo sản phẩm dựa vào lời kêu gọi sự hấp dẫn đua đòi, như những lời quảng cáo dưới đây:
    j. Đầu lọc Camen. Chúng không phải dành cho tất cả mọi người.(Có lẽ bởi vì phần lớn mọi người đều không thích chúng chăng?)
    k. Chúng tôi sản xuất loại rượu đắt nhất tại Mỹ. (Nhưng không phải là tốt nhất và ngon nhất?)
    l. Chỉ một trong 50 quả nho được chọn để sản xuất loại rượu Sâmpanh tốt nhất. (Nếu chỉ 2% nho được trồng trong những ruộng nho làm rượu Sâmpanh và số còn lại được trồng để sản xuất rượu hoặc nước hoa quả thì những loại nho này có kém uy tín hay không?)
    m. Guerlain rất hài lòng thông báo rằng chỉ có một người duy nhất trong 10000 người mới được mặc hàng Imperiale. (Việc kinh doanh đang đi xuống chăng?)
    n. Hình ảnh phiêu lưu mạo hiểm của Amstrong. Nếu bạn can đảm thì bạn sẽ dành được tấm thảm vinh quang! (Có mạo hiểm không khi đặt hàng một sản phẩm chưa qua thử thách?)
    o. Người phụ nữ có khiếu thẩm mỹ. Eve. Bình thường và có tinh dầu bạc hà. (Không biết cô ta có thẩm mỹ tốt hay tồi?)
    p. Giới thiệu The Date Walnut Double Decker. Đó không phải là loại bánh bạn ăn hàng ngày. (Bởi vì có những loại khác mà bạn thích hơn nhiều?)

    Quyền lực được kêu gọi trong những lý lẽ như vậy là quyền lực của uy tín hoặc quyền lực của sự loại trừ. Những giá trị này sẽ không xác đáng nếu mục đích của những quảng cáo này là để chứng tỏ rằng những sản phẩm đang được nói đến là có uy tín, nhưng không phải như thế. Thay vào đó mục đích thực sự của những lời quảng cáo như trên khiến chúng ta tin rằng việc mua những mặt hàng trên sẽ tự động ban tặng cho chúng ta sự quyến rũ và thanh thế đang chờ trước mắt chúng ta. Giá như nó chỉ đơn giản như vậy!

    Có thể khó khăn khi phân biệt sự kêu gọi số ít được lựa chọn với sự kêu gọi quần chúng. Nhìn chung sự kêu gọi quần chúng là hướng tới một đám đông lớn dựa chủ yếu vào nỗi sợ rằng điều sắp sảy ra có thể vượt ra khỏi quan điểm của nhóm, và lợi dụng càng nhiều tình cảm của chúng ta càng tốt để đạt được sự thuyết phục. Trong khi đó sự kêu gọi số ít được lựa chọn hướng nhiều hơn vào cá nhân, và lời kêu gọi trực tiếp đơn giản tới sự hư ảo, sự mong muốn của chúng ta được nhìn thấy mình như những đối tượng đặc biệt hoặc theo cách nào đó chúng ta là tốt hơn các "đám đông", thông qua sự tham gia vào tầng lớp cao hơn, hoặc đòi hỏi một sự sở hữu hoặc phụ thuộc đáng thèm muốn nào đó.
    Quyền lực của truyền thống[62]

    Sự kêu gọi quyền lực có thể có một hình thức khác -- sự kêu gọi phong tục tập quán và truyền thống như trong lý lẽ dưới đây:
    a. Vấn đề hôn nhân cũng xa xưa như lịch sử loài người, bởi thế nó phải được coi như thánh thần.

    Chúng ta có thể đáp lại kiểu lý luận này rằng, tình trạng đĩ điếm, đi cầu, ăn uống, *.*... cũng có từ xa xưa như lịch sử loài người vậy! Nó có đáng phải được coi là thánh thần hay không?

    Lời kêu gọi phong tục tập quán hoặc truyền thống cũng được các nhà quảng cáo lưu ý tới. Ví dụ lời quảng cáo một loại rượu bắt đầu như sau:
    b. Hãy uống rượu của Ailen, một loại rượu truyền thuyết của đất nước Ailen.

    Thực chất đó cũng là một lời kêu gọi tương tự như các nhà quảng cáo đã làm để chào hàng sản phẩm của họ như kiểu "mốt cũ" và " như bà của chúng ta thường làm."
    · Sự nguỵ biện về việc kêu gọi quyền lực là vấn đề hướng ai đó vào việc chứng minh một luận điểm mà người đó không phải là chuyên gia của vấn đề đó.
    · Chúng ta cần nhớ rằng, thậm trí những người có quyền lực cũng không mong đợi được gánh vác thế giới. Không phải những điều họ nói là làm cho sự việc đúng như vậy mà chỉ vì có bằng chứng mới là quan trọng.
    · Loại nguỵ biện này thể hiện dưới nhiều hình thức: lời kêu gọi số ít (quyền lực nổi bật); lời kêu gọi quyền lực của đám đông (có khi còn được gọi là lý lẽ của sự đồng lòng); sự kêu gọi số ít được lựa chọn (hấp dẫn đua đòi -- hình thức này vẫn thường được gọi như vậy); và thỉnh thoảng nó có hình thức của lời kêu gọi truyền thống.

    [55] Fallacy of Appeal to Authority
    [56] Nhà triết học người Anh John Lock đã gọi loại ngụy biện này bằng một cái tên Latin -- argument ad verecundiam, có nghĩa là " lý lẽ hướng tới tình cảm khiêm tốn của chúng ta." Verecundian mang hàm ý xấu hổ và khiêm tốn, nhấn mạnh tới việc chúng ta thường xuyên có thể bị buộc phải chấp thuận một kết luận sai trái bởi vì chúng ta cảm thấy hổ thẹn khi bàn cãi một quyền lực đã được giả định.
    [57] The authority of the One
    [58] The Authority of the Many
    [59] Argument by Consensus
    [60] The authority of the Selected Few
    [61] Snob appeal
    [62] The authority of tradition

  6. #26
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    5. Đánh Vào Sự Không Biết[63]

    Lối sai lầm đánh vào sự không biết là lý lẽ trong đó việc sử dụng sự thiếu khả năng phản chứng của đối phương để làm một bằng chứng cho sự đúng đắn của kết luận đó. Bằng cách chuyển nghĩa vụ phải chứng minh điều mình nói là đúng sự thật ra khỏi lý lẽ sang người nghe, lý lẽ đó trở thành thiếu xác đáng.

    Hai lý lẽ dưới đây nhằm cố gắng chuyển nghĩa vụ phải chứng minh điều mình nói là đúng sự thật:
    a. Có một cuộc sống văn minh ngoài không gian bởi vì chưa ai có thể chứng tỏ rằng ở đó không có.
    b. Tôi biết mọi hoạt động chúng ta thực hiện là thiên định bởi vì không ai có thể chứng minh được rằng chúng ta có sự tự chủ.

    Những lý lẽ sai lầm như vậy liên quan đến sự kêu gọi tình cảm, trong đó người ta hy vọng đặt đối phương vào thế phòng ngự, làm cho họ phải tin rằng kết luận đưa ra đơn thuần là phải đúng bởi họ không thế chứng minh khác được. Niềm tin đó là vô lý và có từ cảm giác bị hăm doạ. Trong lý lẽ lo-gíc, trách nhiệm chứng minh thuộc về người đưa ra kết luận.

    Nếu sự thiếu bằng chứng đi ngược lại yêu sách có thể được coi là bằng chứng cho kết luận thì chúng ta có thể chứng minh bất cứ điều gí chúng ta muốn -- kể cả phép mầu nhiệm, như là truyền thuyết thời Trung Cổ minh hoạ cho những bức tượng khóc lóc. Vào ngày thứ Sáu tốt (Good Friday) của mỗi năm, khi giáo đoàn cúi đầu để cầu nguyện, người ta nói rằng bức tượng trên bàn thờ của nhà thờ sẽ quì xuống và rơi lệ. Nhưng nếu thậm chí một người nào đó từ những người cầu nguyện nhìn lên để nhìn những giọt nước mắt thì điều kỳ diệu sẽ không xảy ra nữa. Bức tượng chỉ khóc khi tất cả các thành viên giáo đoàn thể hiện một niềm tin tuyệt đối. (TQ hiệu đính: nếu mọi người đều cuối đầu cầu nguyện, thì không ai sẽ thấy bức tượng khóc. Nếu có 1 người ngó lên xem bức tượng, thì không phải mọi người đều cầu nguyện, và vì thế bức tượng sẽ không khóc. Ai trong đám tín đồ dám đứng lên nói rằng tôi đã không cuối đầu cầu nguyện, mà chỉ nhìn xem bức tượng có khóc không?).

    Truyền thuyết có vẻ như là thú vị, có tính ngụ ngôn vô hại, nhưng sai lầm đánh vào sự không biết có thể dẫn đến những kết luận mơ hồ hơn.
    c. Những người chữa bệnh bằng cách xoa bóp đã hoàn toàn thất bại khi cố gắng thiết lập một cơ sở khoa học cho những khái niệm của họ. Vấn đề này do vậy có thể được giải quyết một lần và cho tất cả. Việc chữa bệnh bằng phương pháp xoa bóp là không có cơ sở khoa học.

    Việc những người chữa bệnh bằng phương pháp xoa bóp đến tận giờ vẫn không chứng tỏ được rằng những khái niệm của họ có cơ sở khoa học là không phải để chứng tỏ họ thiếu cơ sở đó -- điều có thể được thiết lập.
    d. Không có bằng chứng cho việc khoa trưởng làm rò rỉ thông tin cho báo chí, do vậy tôi chắc chắn rằng bà ấy không thế làm viêc đó được.

    Mặc dù hiện tại chúng ta đang không có bằng chứng cho thấy bà ta làm việc đó, thì điều này cũng không tạo nên bằng chứng cho việc bà khoa trưởng là vô tội.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kiểu lý luận này không mang tính sai lầm tại toà án, nơi mà sự bào chữa có thể là hợp pháp khi bên nguyên tố thiếu bằng chứng kết tội; Sau đó sự tuyên án vô tội sẽ được bảo đảm, vì trách nhiệm chứng minh thuộc về bên nguyên tố. Mặc dù sự tuyên bố này có vẻ liên quan đến sai lầm đánh vào sự không biết, thực sự thì không phải như vậy. Nguyên tắc xác đáng hợp pháp trong trường hợp này là một người được "coi là vô tội cho đến khi chứng minh có tội".[64] Chúng ta không nói rằng bên bị là vô tội cho đến khi chứng minh được tội, nhưng chỉ có điều là họ được coi là như vậy. Rõ ràng, không phải bất cứ ai mà tội lỗi của họ không được chứng minh đều được coi là vô tội; thực tế cho thấy là sau đó một vài người bị chứng minh là có tội. Nhưng theo pháp luật họ được coi là vô tội cho đến khi điều này được thực hiện, bất kể họ thực sự có tội hay không. Thực tập trong toà án, bởi vậy, không phải là ngọai lệ đối với luật lệ của chúng ta.

    Ai đó khi sử dụng sai lầm đánh vào sự không biết sẽ thường cố gắng làm vững chắc thêm việc kiện tụng của mình với những luận đề không liên quan.
    e. Tôi chưa một lần nghe thấy lý lẽ cho việc điều chỉnh giá -- điều mà bất cứ người nhạy cảm nào cũng chấp thuận được. Do vậy, việc điều chỉnh giá rõ ràng là một ý kiến không tốt.

    Lý lẽ này là có thể được phủ nhận không phải chỉ vì nó thiếu bằng chứng mà còn bởi vì việc sử dụng tính từ nhạy cảm chỉ trích bất cứ một lý lẽ nào cho việc điều chỉnh giá; điều chúng ta sẵn sàng đề nghị. Hãy chú ý đến những luận đề không liên quan trong những sai lầm sau.
    f. Không một nhà khoa học có trách nhiệm nào chứng tỏ được rằng strontium 90 trong bụi phóng xạ nguyên tử gây nên bệnh bạch cầu. Bởi thế chúng ta có thể thông qua những người gây hoang mang và tiếp tục thử vũ khí hạt nhân với một lương tâm trong sáng.
    g. Nếu có bằng chứng rõ ràng nào về những cái gọi là đĩa bay, nó có thể được đưa tin trong những tạp chí khoa học uy tín của chúng ta. Không một báo cáo nào được thực hiện, do vậy không có bằng chứng thực sự nào cho vấn đề đó.

    Thuật ngữ nhà khoa học có trách nhiệm và người gây hoang mang trong lý lẽ (f) và bằng chứng rõ ràng và có uy tín trong lý lẽ (g) làm cho chúng ta hầu như là không có khả năng phản bác nếu như không muốn được liệt vào loại người gieo hoang mang hay không có uy tín. Bất cứ ai đưa ra lý lẽ dưới hình thức sai lầm này đều không muốn tranh luận một cách lo-gic và không được chuẩn bị để tranh luận một cách lý trí.

    Khi nghiên cứu về sai lầm đánh vào sự không biết, thỉnh thoảng nó chỉ ra rằng ngôn ngữ của một số đám cưới có vẻ như sử dụng loại sai lầm này khi người hành lễ hỏi bất kỳ ai có mặt tại đây cho biết nguyên nhân tại sao cô dâu và chú rể không nên cưới nhau. Khi tuyên bố ai đó có thể cho thấy nguyên nhân như vậy, mọi người sẽ im lặng. Đây không phải là tranh luận mà đơn giản là lời yêu cầu. Nhưng lời yêu cầu đó không phản chứng rằng, tuy không ai có thể đưa ra lý do, đâu có đồng nghĩa rằng lý do như vậy không tồn tại. Điều đó chỉ nói lên rằng nếu không có ai phản đối thì đám cưới sẽ tiếp tục được tiến hành.
    · Sai lầm đánh vào sự không biết là sai lầm trong đó chúng ta cố gắng tránh phủ nhận một luận điểm của đối phương như là bằng chứng của vịêc công nhận. (Anh không thể chứng tỏ tôi sai, thì tôi phải đúng.)
    · Tuy nhiên người đưa ra một luận điểm để cung cấp bằng chứng cho nó phải có trách nhiệm; nghĩa vụ này không thể chuyển sang đối phương được.

    [63] Fallacy Of Appeal To Ignorance
    [64] presumed innocent until proved guilty

  7. #27
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    3
    6. Kêu Gọi Sự Sợ Hãi[65]

    Kiểu sai lầm kêu gọi sự sợ hãi dùng sự đe doạ tổn hại để đưa ra một kết luận của một người nào đó. Đó là loại lý lẽ mà con người và các quốc gia phải dùng đến khi họ không quan tâm đến việc đưa ra những lý do xác đáng cho quan điểm của mình. Còn được biết đến như là đung đưa câu gậy lớn[66], lý lẽ này hiếm khi giải quyết được mối bất hoà.

    Lý lẽ này nên được phân biệt với kiểu đe doạ thật sự. Nếu có người dí súng vào lưng bạn và nói, "Đưa tiền đây hoặc là mất mạng," thì bạn sẽ không đáp lại như, " Ah! Thật là ngụy biện!" Nó không phải là ngụy biện bởi nó không phải là lý lẽ. Mặc dù tên trộm đang kêu gọi nỗi sợ hãi trong bạn và thậm chí đưa ra một lý do tại sao bạn nên làm những điều hắn ta yêu cầu thì hắn ta cũng không đưa ra một bằng chứng để chứng minh sự thật của lời tuyên bố. Tên trộm không phải là đang tranh cãi với bạn mà đơn giản là yêu cầu bạn. Tương tự, đây là những lời đe doạ "Nếu anh không đưa chó ra khỏi vườn cau của tôi thì tôi sẽ bắn nó," hoặc " Nếu không đi ngủ thì con sẽ ăn đòn!"

    Hãy so sánh các ví dụ trên với ví dụ dưới đây, trong đó một luật sư nói với ban hội thẩm:
    a. Nếu các ông không tuyên án kẻ giết người này thì một trong số các ông sẽ có thể trở thành nạn nhân của hắn.

    Đây là một lý luận, và nó là một là sai lầm. Lý do chúng ta sợ mình sẽ là "nạn nhân tiếp theo" là không xác đáng để kết án. Vấn đề sợ hãi đó là không xác đáng. Được diễn tả đầy đủ thì lý lẽ này có thể được đọc như sau:
    b. Các ông phải tin rằng người đàn bà này là có tội và vì thế bà ta phải bị kết án bởi nếu các ông không kết tội bà ta, bà ta sẽ được thả và cuối cùng các ông có thể trở thành nạn nhân của bà ta.

    Nói rõ ràng, lý lẽ trên là sai lầm bởi điều bị cáo sẽ làm trong tương lai có thể không như vậy, và tương lai không có gì chứng minh người đó vô tội hoặc đã từng phạm tội trong quá khứ. Người bào chữa đã khơi dậy nỗi sợ hãi. Điều đó đã lừa chúng ta nghĩ rằng lý lẽ đó là xác đáng.

    Sự kêu gọi nỗi sợ hãi do vậy là một lý luận sai lầm. Trong một vài trường hợp, bằng chứng có thể ngắn gọn và ẩn tàn, như trong ví dụ (a) và (b) ở trên; ở những trường hợp khác bằng chứng có thể dài hàng trang hoặc thậm chí hàng quyển. Sự giải thích dưới đây cho lời kêu gọi của người Athenian để khiến những người đại diện của đảo Melo liên kết với họ được lấy từ lịch sử Hi-lạp là một ví dụ kinh điển về sự kêu gọi sức mạnh.
    c. Các anh cũng biết rõ như chúng tôi rằng, trong luật về sự tự nhiên của con người, lẽ phải chỉ trở thành vấn đề ở chỗ có sự cân bằng về quyền lực, trong khi nó có thể quyết định sức mạnh cổ vũ cái gì và cái yếu thừa nhận thừa nhận cái gì?. Vũ khí mạnh nhất của các anh là sự hy vọng thì vẫn chưa được nhận ra trong khi vũ khí trong tay các anh là cái gì đó không tương xứng để chống đối lại những sức mạnh vừa được thiết lập nhằm chống lại các anh … suy nghĩ kỹ đi … rằng các anh đang quyết định cho đất nước của mình … một đất nước mà vận mệnh phụ thuộc vào một quyết định đúng hoặc sai. (Trích từ Lịch Sử Cuộc Chiến Tranh Của Người Pelôpnnesian, chương 5)

    Không phải tất cả các mối đe doạ đều được diễn đạt một cách nhẹ nhàng như vậy. Chứng ta có thể bắt gặp sự kêu gọi nỗi sợ hãi bằng thứ ngôn ngữ như dưới đây:
    d. Đừng tranh cãi với tôi. Hãy nhớ ai trả lương cho anh.
    e. Anh không muốn là người bị xã hội ruồng bỏ đúng không? Thế thì tốt hơn hết là ngày mai anh gặp chúng tôi.
    f. Trường đại học này không cần nghiệp đoàn cho giảng viên, và các thành viên trong khoa -- những ai nghĩ rằng cần có nó thì sẽ phát hiện ra lỗi của mình vào việc xem xét lại nhiệm kỳ tới.

    Những lý lẽ này là những hình thức sai lầm thô thiển. Chúng nói thẳng ra rằng mối đe doạ đang được đưa ra. Lối sai lầm trên cũng thích hợp với những mối đe doạ được che đậy.
    g. Thưa ông chủ bút, tôi hy vọng rằng trò dại dột không đáng kể này của con trai tôi không có giá trị thực sự với báo chí. Tôi biết rằng các ông sẽ đồng ý rằng công ty chúng tôi bỏ ra hàng nghìn đô la để quảng cáo trên báo của các ông hàng năm.
    h. Những người tị nạn đến đất nước này từ Nam Á không có quyền cố gắng giữ gìn phong tục tập quán và ngôn ngữ của họ trong khi bác bỏ những cách thức của người Mỹ. Nếu không vì những phong tục tập quán tốt đẹp của người Mỹ thì những người đó sẽ thất cơ lỡ vận.

    Mặc dù những lý lẽ này không đưa ra một lời đe doạ rõ ràng, trong đó cũng có nghi ngờ nhỏ về sự tự nhiên của những lý do được đưa ra.

    Sự kêu gọi nỗi sợ hãi có chiều hướng nhân lên trong những giai đoạn bị áp lực hoặc xung đột trong cả các quốc gia và cá nhân. Khi các nước sản xuất dầu ở Trung Đông giả bộ đe doạ việc cung cấp dầu đối với phương Tây vào năm 1974, ví dụ như họ phải soạn thảo một danh sách các công ty Mỹ mà họ chỉ trích để ưu tiên Israel. Điều này được hiểu như là sự đe doạ nỗi sợ hãi trực tiếp tới các công ty Mỹ. Việc đó có thể ưu tiên Israel trong mối bất hoà Arập-Israel. Tương tự, trong giai đoạn mạnh mẽ chống lại các hoạt động của Cộng Sản của hội John Birch, hội đó đã ban hành một lời tuyên bố đứng trước một danh sách các nhà quảng cáo như sau:
    i. Danh sách các nhà quảng cáo được biên soạn để các thành viên của phong trào Bảo Thủ Chống Cộng có cách xác định những công ty đứng lên quan tâm đến cuộc chiến bảo vệ di sản của ngưòi Mỹ.

    Mặc dù lời tuyên bố không hề có ý định nói rằng những công ty không được nhắc đến sẽ ủng hộ Cộng Sản, nhưng sự ám chỉ tới ý định đó thì thật rõ ràng. Trong tất cả các kiểu sai lầm về sự thiếu xác đáng, mục đích của lý lẽ là kêu gọi tình cảm hơn là lý trí.
    · Sự kêu gọi nỗi sợ hãi là một lý lẽ sai lầm sử dụng sự đe doạ thiệt hại để đưa ra kết luận của một ai đó.
    · Nó hiệu quả bởi bằng cách khuấy động đủ nỗi sợ hãi trong một người, nó có thể làm cho người ta tin vào những việc mà trong những thời điểm bình tĩnh người ta sẽ phủ nhận nó.
    · Tuy nhiên chúng ta cần phân biệt lý lẽ trong đó sự đe doạ được lợi dụng với sự đe doạ thật sự.

    [65] Fallacy Of Appeal To Fear
    [66] Vì tiếng Latin cho từ cây gậy là baculum, lý lẽ này được biết đến trong tiếng Latin là argumentum ad baculum

  8. #28
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    7. Tóm Tắt

    Chương này trình bày sáu kiểu sai lầm về sự xác đáng. Những sai lầm đó được thể hiện như là những lý lẽ trong đó sự kêu gọi tình cảm lừa chúng ta tin rằng những gì được nói đến là xác đáng đối với kết luận đang được nêu ra khi mục đích chính của lời kêu gọi là tranh thủ sự ủng hộ đối với kết luận đó thông qua phản ứng tình cảm hơn là lô-gíc. Sự đe doạ đó được sử dụng để ép buộc lòng tin (chứ không phải cách cư xử). Do vậy chúng ta có trường hợp nguỵ biện về sự kêu gọi nỗi sợ hãi -- nếu không đơn giản đó chỉ là sự đe doạ.

    * Sự công kích cá nhân được cho thấy như là một lý lẽ công kích một hay nhiều người có liên quan đến vấn đề đặt ra hơn là với chính vấn đề. Một ví dụ đã được đưa ra nói đến lý lẽ để phản bác một cách chữa trị bệnh ung thư bởi vì người biểu đã nổi tiếng vì sự ủng hộ của bà ta với chủ nghĩa Mác-xít. Chúng ta thấy rằng sự nguỵ biện này -- lợi dụng sự nghi ngờ và định kiến, có thể có nhiều dạng khác nhau: nguỵ biện căn nguyên, nơi mà một người bôi nhọ nguồn gốc của lý lẽ; sai lầm lạm dụng và suy diễn, nơi mà người ta dùng đến để lăng mạ nói bóng gió; tu quoque và phá hoại điều tốt là hai cách sai lầm mà người ta gây nghi ngờ về tính kiên định và sự tín nhiệm của đối thủ.

    * Sự kêu gọi quần chúng được coi như là kết quả của các kỹ thuật truyền bá khác nhau được sử dụng kết hợp để khuấy động tình cảm của mọi người và hướng sự chú ý ra khỏi vấn đề có thực. Bài điếu văn của Mark Antony được khai thác như là một ví dụ ấn tượng nhất.

    * Sự kêu gọi lòng thương được miêu tả như là một cố gắng giành được điểm của một người nào đó bằng cách lợi dụng lòng thông cảm của họ. Lời quảng cáo bắt đầu bằng "Có một số điều mà con cái bạn sẽ không nói cho bạn biết đâu!" được coi như là một ví dụ minh hoạ.

    * Sự kêu gọi quyền lực được xem như là một cố gắng nhằm đe doạ chúng ta chấp nhận một kết luận bởi ai đó được giới thiệu như là một chuyên gia đã xác nhận điều đó, mặc dù người đó không phải là chuyên gia về lĩnh vực đó; bởi vì đa số mọi người đã xác nhận vấn đề đó; hoặc bởi vì nó được công nhận là tuyệt diệu; hoặc bởi truyền thống. Khẩu hiệu "Ơ Philadelphia hầu hết mọi người đều đọc cuốn Bulletin" cũng là một ví dụ.

    * Đánh vào sự không biết được cho thấy như là một lý lẽ cố gắng đe dọa chúng ta phải tin vào một điều rằng cái gì đó phải như vậy chỉ đơn giản bởi vì chúng ta không thể chứng minh nó khác được. Ví dụ, nếu chúng ta không thể chứng minh được rằng vị trưởng khoa rò rỉ thông tin cho báo giới thì chúng ta phải coi rằng bà ta không làm điều đó.

    * Cuối cùng, sự kêu gọi nỗi sợ hãi, cũng được coi như là sai lầm. Nó nảy sinh khi một kết luận đạt được sự ủng hộ không phải bằng cách thiết lập kết luận đó thông qua sự suy luận lo-gíc mà bởi do sự sử dụng sự đe doạ sức mạnh hoặc mối thiệt hại. Lý lẽ "nếu các ông không tuyên án mụ giết người này thì một trong số các ông có thể sẽ trở thành nạn nhân kế tiếp của bà ta" được coi là một ví dụ cho sự sai lầm này.

    Tất cả đều đạt được mục đích của mình bằng cách đưa ra những thứ không chân thực nhằm gợi lên một tình cảm cụ thể nào đó khiến chúng ta chấp nhận sự quyết định cuối cùng mà không hề dựa vào những tiền đề trước đó.
    HẾT CHƯƠNG III

  9. #29
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    37
    Phần III

    Chương 6


    Viết Rõ Ràng và Chặt Chẽ[67]

    Võ Hồng Long dịch

    Một bài luận, về bản chất là một luận điểm được mở rộng; trong đó người viết khẳng định lại về chủ đề (khẳng định này thường được gọi là kết luận) bằng cách lý giải thông qua những ví dụ cụ thể (cơ sở để minh chứng cho kết luận). Nhiệm vụ của các bạn là thực hành và kiểm tra những lý giải của các tác giả khác. Khi bạn hiểu được làm thế nào tác giả mà bạn đọc đi đến một kết luận nhất định, bạn có thể đồng ý, phản đối, hoặc sửa chữa những luận điểm với cách thức cho phép. Nếu bạn trình bày quan điểm của bạn dưới dạng một bài luận bạn có thể đưa ra dưới dạng một cử chỉ đáng tin, một tín hiệu mà bạn có thể lý giải từ những cơ sở đến kết luận. Bạn không chỉ đơn giản là tổng kết lại những điều mà bạn đọc; bạn phải chứng minh rằng bạn đã suy nghĩ về vấn đề mà bạn nghiên cứu và đọc.

    Nhận lấy những ý kiến của bạn theo cách này là một thử thách; tuy nhiên viết một bài luận một cách mạch lạc, chín chắn là một thủ thuật. Giống như những thủ thuật khác, điều đó có thể, với thực tế, nó cần được kiểm soát. Khi bạn phát triển kỹ năng viết của mình, bạn nên áp dụng những điều đã đọc trong sự lý giải hợp lý, nghiên cứu các cách mà các sai lầm đã xuất hiện trong các luận điểm mà bạn đã đọc và viết về. Tuy nhiên bạn cũng nên nhớ rằng viết một bài luận liên quan nhiều hơn là hiểu về sự lý giải hợp lý hay không hợp lý. Để viết một bài luận một cách hiệu quả, bạn phải phân tích và hiểu chủ đề, dự định và xắp xếp những từ và phong cách mà bạn sử dụng để viết, và suy nghĩ một cách thận trọng về người đọc của bạn, họ là ai và làm sao bạn có thể thuyết phục họ chấp nhận những luận điểm của bạn một cách nghiêm túc.

    Một cách chính xác hơn, những bộ phận của một bài luận phải lo-gic, đúng ngữ pháp, và tu từ. Lo-gic là quá trình lý giải bạn đã áp dụng trong suốt quyển sách này; trình bày cho những đọc giả của bạn với những luận cứ (Mọi người đều phải chết. Socrates là một con người.) Và một kết luận xuất phát từ những cơ sở đó (Socrates cũng sẽ chết). Ngữ pháp là nói đến cấu trúc của các câu. Ví dụ như trong câu sau:
    Socrates (chủ ngữ của câu)

    là (động từ, liên từ)

    một con người (là bổ ngữ, để bổ sung, mô tả chủ ngữ)

    Tu từ là các cách mà chúng ta sử dụng ngữ pháp và lo-gic để khơi dậy, thu hút và thuyết phục người đọc. Ví dụ như kết luận rằng Socrates cũng sẽ chết là đúng và ngữ pháp của nó là minh bạch. Tuy nhiên một người viết luận có thể sử dụng lo-gic và cú pháp của thuyết tam đoạn luận của Socrates để đạt được một kết luận có liên quan nhưng thiếu tính chứng minh hơn:
    Chúng ta biết rằng mọi người đều phải chết, và Socrates không phải là một ngoại lệ. Socrates đã không còn đối với chúng ta; chúng ta chỉ biết những lời giải thích của Plato về lời nói của Socrates. Không có gì trên đời này là tồn tại mãi mãi. Chúng ta chết đi, mặc dù những suy nghĩ của chúng ta vẫn sống trong những quyển sách, mặc dù tiểu sử của chúng ta vẫn được ghi chép nhưng chúng ta không thể tự nói cho chính mình. Cái chết của chúng ta có nghĩa là những người khác đã nói hộ cho chúng ta; khi mất đi cơ thể của mình cũng có nghĩa là mất đi tiếng nói.

    Chú ý trong đoạn trên đã sử dụng lo-gic và ngữ pháp để đạt đến một kết luận mới, một kết luận dựa trên tài hùng biện và phong cách cũng như những câu đúng ngữ pháp và lý giải hợp lý. Trong trường hợp này, những câu nói ngắn và súc tích được thay đổi bằng câu dài và chi tiết hơn, như trong luận điểm liên hệ giữa Socrates và mọi người để đạt đến một sự khẳng định về cái chết. Nếu người viết đoạn trên quan tâm đến việc thuyết phục một người đọc nào đó; có một mục tiêu trong suy nghĩ, người viết sẽ mở rộng những quyết định rõ ràng mạch lạc và hợp lý để giảm đi những nhận định không rõ ràng và khó diễn đạt, và thay đổi cú pháp để đạt đến một giọng điệu thuyết phục. Kết quả tạo ra một tâm trạng và giọng điệu có thể gây ảnh hưởng đến người đọc. Từ ví dụ này, bạn có thể thấy rằng lo-gic, cấu trúc câu và kỹ năng thuyết phục gắn bó với nhau trong quá trình viết một bài luận.
    1. Khái Quát Về Cấu Trúc Một Bài Luận

    Hãy giả định rằng bạn được giao nhiệm vụ viết một bài luận từ ba đến năm trang cho lớp của mình. Nhiệm vụ đó có thể được chỉ dẫn bằng một cấu trúc hoàn toàn dễ hiểu. Mặc dù những bài luận có nhiều dạng và quy mô, kết cấu dễ dàng nhất mà bạn sẽ áp dụng (và sửa đổi nếu bạn muốn) sẽ là một bài luận theo truyền thống gồm ba phần. Sự mô tả sau đây về cấu trúc này, cùng với bài luận của sinh viên được sử dụng để chứng minh, phù hợp với các cách viết lập luận truyền thống. Một bài lập luận đã lấy một kết luận về một vấn đề, hoặc một kết luận đặc biệt đến một tác giả khác, và đồng ý với, hoặc không đồng ý với, hoặc đôi khi sửa đổi những kết luận đó. Đó là việc trình bày những luận cứ được tổ chức theo các đoạn văn mạch lạc và hợp lý. Cấu trúc như vậy được tổ chức như sau.
    Mở đầu

    Một bài luận truyền thống được bắt đầu bằng cách giới thiệu về chủ đề. Bên cạnh đó nó nêu ra một luận đề[68] mà tác giả muốn chứng minh. Đoạn văn đầu tiên của một bài luận thường được gọi là giới thiệu. Hãy xem một sinh viên đã bắt đầu một bài luận của mình về Socrates:

    "Năm 399 trước công nguyên một người đàn ông tên là Socrates đã được đưa ra toà xét xử và bị buộc tội chết bởi người được cho rằng là do chúa phái đến để giúp đỡ và cải tạo. Sự buộc tội chống lại ông ta là gấp đôi. Ông bị buộc tội về, đầu tiên là tư tưởng vô thần hay "không tin vào chúa, người mà cả cộng đồng đều tin vào, mà lại tin vào những thần thánh khác" (Tội lỗi 24b). Thứ hai, ông bị buộc tội vì đã làm vẩn đục tâm hồn những người trẻ tuổi. Socrates đã bị xét xử do những luận điểm này bởi hội thẩm gồm những người ngang hàng ông, và sự kết tội đối với ông phản ánh rằng ông đã vượt quá giới hạn của pháp luật đã duy trì xã hội Athen. Tuy nhiên có thể tìm thấy những lý do phức tạp hơn để lý giải cho hình phạt tử hình đối với Socrates đó là người dân Athen cảm thấy bị đe doạ về mặt cá nhân cũng như về phương diện văn hoá bởi những điều mà Socrates dạy."

    Tác giả này đã bắt đầu đoạn văn của mình thông qua quá trình sau: (1) đưa ra chủ đề là sự xét xử đối với Socrates và hình phạt, (2) thu hẹp và tập trung chủ đề vào vấn đề hình phạt chống lại Socrates, và (3) để người đọc biết được ý định của người viết là không đồng ý với phán quyết tử hình chỉ vì phá vỡ các luật lệ; người viết cho rằng lập luận của mình sẽ tập trung vào việc người Athen phản ứng đối với những gì mà Socrates giảng dạy. Sự mở đầu này chuẩn bị cho người đọc biết được vấn đề được bàn đến và thu hẹp nội dung chủ đề đã được xác định. Kết luận, hay luận đề đó được người viết trình bày một cách lưu loát; với tư cách người đọc chúng ta sẵn sàng cho một cuộc thảo luận tại sao người viết đặt ra vấn đề và xem xét tầm quan trọng của "những sự thực" xung quanh cái chết của Socrates.
    Thân bài

    Mỗi đoạn văn trong phần thân bài của một bài luận trình bày và phát triển các luận điểm của tác giả với sự chi tiết và các ví dụ (thường gọi là các bằng chứng) để chứng minh kết luận đã đưa ra. Bạn có thể có được cái nhìn tổng quan về cấu trúc của một bài luận bằng cách xem xét bốn đoạn văn tiếp theo của bài luận này trong đó người viết trình bày những phát hiện của mình xoay quanh nguyên nhân dẫn đến cái chết của Socrates:

    Để hiểu được quyết định của người dân Athen, chúng ta phải tìm hiểu những tình huống xung quanh vụ xét xử, cũng như làm quen với đặc điểm của Socrates và những lời buộc tội. Tác phẩm Lời thú tội của Plato, là cơ sở tin cậy để hiểu được triết lý của Socrates, đưa ra những chứng minh có giá trị của Socrates và những phương pháp suy luận của ông. Socrates tự bảo vệ mình bằng những lo-gic và chân giá trị, bác bẻ lại những sự cáo buộc chống lại ông, cũng như những điều chưa được nói ra. Khi ông tuyên bố trong vụ án, Socrates nhắc đi nhắc lại với bồi thẩm đoàn rằng những điều ông nói ra là sự thật, mọi sự suy luận không phải bao giờ cũng khó phát hiện và những người buộc tội ông đã lừa dối. Bên cạnh đó, ông liên tục nói rằng hoạt động của ông là bổn phận hay nghĩa vụ tôn giáo được giao cho ông bởi chúa trời. Theo sự giải thích của Plato tại phiên toà, Socrates những điều mà chúa trời ban ra, không một người nào có thể phán xét. Không một lần, ngay cả sau khi ông bị kết tội chết, Socrates kêu gọi lòng thương xót của các vị bồi thẩm hay cố gắng xu nịnh họ; ông thậm chí còn đi xa hơn khi nói rằng nếu ông được tha thì ông lại tiếp tục những hoạt động khiến ông bị đưa ra xét xử. Socrates sau lúc đó trở thành một con người với nghĩa vụ tôn giáo không thể bị lay chuyển bởi ý kiến của người Athen rằng ông đã phá vỡ các quy tắc đã điều chỉnh cuộc sống của thành phố này.

    Đoạn văn thứ hai này đưa ra bối cảnh để hiểu được những luận điểm của người viết trong đó nó thay đổi hình ảnh của Socrates là một người "bị buộc tội nghịch đạo" trở thành một Socrates là "một người bị kết tội". Mặc dù tác giả đã đưa ra chủ đề và kết luận trong phần đầu tiên của bài luận, trong phần thân bài của bài luận người viết tiếp tục làm rõ chủ đề bằng cách trình bày cái nhìn cụ thể về những động cơ và cư xử của Socrates. Bằng cách đó người viết đã thu hẹp chủ đề và những ví dụ cụ thể được đưa ra để làm rõ luận chứng. Phần còn lại của phần thân bài đưa ra những luận điểm chắc chắn rằng Socrates đã tuân thủ pháp luật của chúa trời hơn là pháp luật của xã hội:

    Vậy những cái gì đã làm cho hoạt động của Socrates không được chấp nhận đối với nhiều người? Socrates tin rằng ông là món quà của chúa trời dành cho người dân Athen, được gửi đến để mở rộng tầm mắt đối với những khiếm khuyết của họ, để họ có thể sửa chữa những khiếm khuyết đó. Phương pháp của Socrates là: gặp những người tự cho mình là thông minh, Socrates sẽ, như Plato nói, "đến với sự giúp đỡ của chúa trời và chỉ cho người đàn ông đó thấy rằng ông ta không phải là người thông minh".(23c) ông sẽ đặt vấn đề với người đàn ông đó về niềm tin của ông ta và những khẳng định, buộc ông ta nhận thấy rằng những ý kiến của ông ta đầy mâu thuẫn. Socrates cảm thấy rằng nếu mọi người nhận thức được sự ngu dốt của họ, họ sẽ bắt đầu đi tìm kiếm sự thật; trong suy nghĩ của Socrates, những người chối bỏ sự ngu dốt của mình không thể suy nghĩ và hành động giống như chúa mong muốn ở họ. Tuy nhiên Socrates liên tục thách thức cộng đồng người Athen và khiến cho những công dân của họ lên án cả nhà triết học và triết lý của ông.

    Tuy nhiên khó khăn không đặt lên Socrates nhiều bằng bản thân những người dân Athen. ở mức độ cá nhân, một người dân Athen có thể cảm thấy xấu hổ và bẽ mặt khi Socrates đặt ra vấn đề làm phơi bày những khiếm khuyết và mâu thuẫn trong khả năng của họ để suy nghĩ một cách khôn ngoan. Những vấn đề của ông làm cho những người nói chuyện với ông nhận thấy một cách khó chịu về sự ngu dốt của họ, cũng như trở nên ngớ ngẩn, thường là trước mặt những người khác. Hãy lấy ví dụ về phản ứng của ông đối với các quan toà về việc họ cáo buộc ông là nghịch đạo và ngạo mạn đối với chúa: "có thể rằng chúa trời thông thái… và khi ông nói về người đàn ông này, Socrates, ông đang sử dụng tên của tôi như là một ví dụ như thể ông đã nói: 'người đàn ông này trong số các bạn, những con người, là thông thái nhất, giống như Socrates, ông hiểu được trí khôn của ông là vô giá trị".(23b). ở đây đã nhẹ nhàng phá bỏ những cơ sở của những giả định của người dân Athen là Socrates nghĩ bản thân ông ta đứng trên cả chúa trời; ngay lúc đó ông đã cho thấy mình là một con người cực kỳ sùng đạo (đạo đức giả). Thái độ như vậy chỉ làm các quan toà cảm thấy ngu ngốc, do đó họ, giống như Euthyphro trong cuộc đối thoại của Plato, chờ đợi một sự trốn thoát khỏi những điều sỉ nhục.

    Ở mức độ lớn hơn, Socrates đã thách thức cấu trúc xã hội Athen, chỉ ra những khiếm khuyết mà những công dân của thành phố đã không nhìn thấy. Những người Athen nhanh chóng muốn tống khứ con người đã phơi bày những thất bại cá nhân của họ và phá vỡ những chuẩn mực xã hội đã được thiết lập. Để vấn đề xấu hơn, Socrates đã chỉ ra những vấn đề mà không kèm theo giải pháp. Nếu ông đề nghị một sự thay thế, mọi người sẽ thấy rằng những điều mà ông chỉ bảo sẽ dễ nuốt hơn, hoặc ít nhất họ tìm thấy những lý do chắc chắn để đưa ông ra toà. Socrates chỉ nói đến những người Athen biết nhận thức để họ nhận ra những sai lầm của mình để mà sửa chữa. Socrates đã so sánh những người dân Athen như những con ngựa đang mê ngủ và có thể bị đánh thức dậy và hoạt động bởi những sinh vật nhỏ bé có vòi đâm. Những người dân Athen có thể khó chịu bởi những sinh vật này, Socrates, và bị đánh chết.

    Bốn đoạn văn đã nêu ra và phát triển hai luận điểm: đầu tiên là Socrates là một người tôn thờ những luật lệ của chúa trời, và thứ hai là người dân Athen cho rằng những triết lý của ông và cách mà ông bày tỏ những triết lý đó đe doạ họ về phương diện cá nhân và văn hoá. Đến đây người viết bắt đầu đạt được sự chứng minh trong kết luận của mình trong đó người viết trình bày những luận điểm bác bỏ lại ý kiến cho rằng Socrates đơn thuần bị kết tội chết vì ông bị phán xử là một tội phạm.

    Tuy nhiên, đoạn văn này sẽ phải tiếp tục nếu nó muốn làm rõ một luận cứ khác làm cơ sở cho luận điểm của nó: rằng những người dân Athen không nhìn thấy những khiếm khuyết của họ trong quá trình suy luận cũng như những khiếm khuyết trong văn hoá Athen. Những nhận định đó không thể được chứng minh vượt ngoài sự ngờ vực. Với ý đó, người viết trình bày một đoạn văn truyền thống thuyết phục sự chấp nhận của chúng ta về sự thật bản chất con người, và đưa ra 2 điều tương tự để chứng minh cho sự thật đó:

    Sự miễn cưỡng tìm kiếm một sự cải thiện trong bản thân và xã hội có phải là đặc tính của riêng người dân Athen không, hay là nó còn mang một nghĩa rộng hơn? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải xác định xem những tính được phô bày bởi những người cùng thời với Socrates là khác biệt với xã hội của họ, hay đó là những đặc điểm vĩnh viễn.

    Chúng ta có thể giải quyết vấn đề này bằng cách trước hết xác nhận rằng giống như những người Athen hầu hết mọi người đều không thích chứng kiến sự thiếu sót và yếu kém của mình. Ví dụ như người say rượu. Người ta thường nói rằng bước lớn nhất để làm thức tỉnh người nghiện rượu là làm cho người bệnh thừa nhận vấn đề của họ và tìm kiếm sự giúp đỡ. Bước này được xem là quan trọng nhất bởi vì lý do sau: những người có vấn đề về uống rượu không có khả năng thừa nhận hoặc là thậm chí nhận ra là họ không thể kiểm soát việc uống rượu của họ. Họ khẳng định rằng có thể ngừng uống rượu bất cứ lúc nào. Họ không muốn đối mặt với vấn đề, thậm chí ngay cả khi họ biết rằng việc nghiện rượu có thể pháp bỏ sự nghiệp,hôn nhân và gia đình. Nói tóm lại, họ sống một cuộc sống tự lừa dối bản thân. Mặc dù họ có thể biết cách nhận thức được tình trạng của họ, nhưng họ đã không làm được như vậy.

    Người ta thường cho rằng con người thường không muốn niềm tin của họ được đem ra tranh cãi. Như ngôi nhà được xây dựng trên nền móng, họ xây dựng cuộc sống của mình trên cơ sở những niềm tin, và nếu móng của ngôi nhà bị lung lay, ngôi nhà có thể bị đổ. Mặc dù mọi người thích thú với một số thay đổi, nhưng họ lại sợ những sự thay đổi đòi hỏi sự điều chỉnh lại hoàn toàn cuộc sống và cách suy nghĩ của họ. Việc đề nghị những điều như thế dường như đe doạ, thậm chí làm mất phẩm giá cá nhân.

    Những người mà gieo rắc sự ngờ vực vào đầu người khác về sự công bằng trong những giả thuyết của họ, đặc biệt là người… chắc chắn bị coi là kẻ thù bất kể là xã hội mà họ đang sống là xã hội nào. Dường như Socrates đã bị loại bỏ bởi cộng đồng của ông bất kể là ông được sinh ra lúc nào và ở đâu. Mọi người sẽ bực tức khi ông có gắng giúp họ tự cải tạo cho dù là họ sống ở Athen, 399 tcn., hoặc sống ở thành phố New York năm 1993.

    Bạn đã thấy rằng phần thân bài của bài luận này được cấu thành hai phần: phần đầu tiên là giải thích lại niềm tin của Socrates và những hành động và phản ứng của người dân Athen đối với những hành động đó, trong khi đó phần hai là sự giải thích khéo léo, mặc dù có tính tranh luận, về động cơ của con người và những ứng xử. Phần thân bài, trình bày điều chủ chốt của một lập luận, điều đó luôn luôn đúng. Cấu trúc của nó có thể thay đổi, nhưng nó luôn được trình bày cẩn thận từng luận cứ một để chứng minh cho luận đề đã đưa ra ở phần đầu tiên của bài luận. Bên cạnh đó, phần thân bài còn là mối quan tâm đặc biệt của người viết, đó là cách người viết trình bày một cách rõ ràng sự giải thích của mình về động cơ của Socrates và hành động của người dân Athen.
    Phần kết

    Phần kết của một bài luận đóng vai trò là sự tóm tắt lại kết luận và những luận cứ đã được trình bày trong phân mở đầu và phần thân bài; sự tổng kết đan cấu các luận điểm mà tác giả đã trình bày theo trình tự. Ví dụ, bài luận văn của sinh viên này nối lại hai phần của thân bài mà cô ta đã trình bày để làm sáng tỏ luận điểm và cô ta muốn trình bày, khi đã giới thiệu trong định đề:

    Vậy tại sao Socrates lại bị kết tội? Bản kết tội đã tuyên chưa hẳn đã giải thích được tại sao ông lại bị chết. Bản kết tội này chẳng qua chỉ là những tập tục mà những kẻ chống đối ông xây dựng một lập luận pháp lý để chống lại những hoạt động của ông và đưa ông ra toà. Socrates không phải chết vì ông là một người vô thần hay là người đã đầu độc tâm hồn của những người trẻ tuổi, mà ông chết bởi vì những sự cáo buộc không được nói ra. Những sự cáo buộc này như đã được nói ở trên gồm có hai phần. Đầu tiên, Socrates đã phơi bày sự dốt nát và yếu đuối của những con người ở Athen, và điều đó làm phát sinh sự bực tức ở họ. Thứ hai, việc đặt vấn đề một cách nghiêm túc của ông cuối cùng sẽ dẫn đến sự đe doạ an ninh của xã hội Athen, điều này khiến cả cộng đồng Athen tấn công ông. Ông đã bị giết bởi xã hội mà ông đã tìm kiếm để cải tạo, bởi vì các công dân trong xã hội đó từ chối việc cho rằng họ cần được cải tạo. Người dân Athen không chào đó những người như Socrates, và dường như là bất cứ người nào hoặc cộng đồng nào xem những lời phê bình như là sự đe doạ cũng sẽ có những xử sự như vậy.

    Phần kết luận hiệu quả và cẩn trọng này đã tổng kết những luận cứ để chứng minh kết luận đó. Do đó có thể nói rằng phần kết không chỉ đơn thuần nhắc lại những điểm chính yếu đã được nêu ra; phần kết còn phải là một nỗ lực sau cùng nhằm thuyết phục người đọc về luận đề, và dựa trên những luận cứ đã được trình bày trong phần thân bài nhằm giúp người đọc hiểu rõ được lập luận của người viết. Giờ đây, bạn đã xem xét qua về cấu trúc của một bài luận, hẳn là bạn đã có một số ý tường về cấu trúc bài luận, bởi vì cách mà bạn tổ chức ý tưởng của mình sẽ giúp bạn định hình ý tưởng của mình. Nếu bạn giải quyết nhiệm vụ viết lách của mình với những hiểu biết về thuật viết lách, bạn sẽ làm việc, và bạn sẽ thấy lập luận của bạn sẽ được xây dựng một cách dễ dàng hơn khi bạn không có một ý niệm nào về hình thức bạn muốn sử dụng.
    [67] Writing with Clarity and Reason
    [68] thesis

  10. #30
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    2. Xây Dựng Một Bài Luận

    Cả các sinh viên và những người viết chuyên nghiệp đôi khi kháng cự lại sự chần chừ, vì những nỗ lực yêu cầu viết đúng chính tả, suy luận hợp lý, và bài luận có tính thuyết phục có thể gây ra chán nản.

    Tuy nhiên nếu bạn tự hỏi bản thân một số câu hỏi và tuân theo một vài quy tắc đơn giản, bạn sẽ thấy rằng nhiệm vụ viết một bài luận có thể dễ dàng hơn rất nhiều.
    Tìm kiếm chủ đề

    Có thể là nhiệm vụ viết một bài luận yêu cầu bạn sẽ tập trung vào một số chủ đề nhất định về điều mà bạn sẽ viết, trong đó giáo viên của bạn có thể yêu cầu bạn đọc một số quyển sách hoặc nghĩ về một vài ý tưởng cụ thể bạn thu nhận được ở lớp học. Khi bạn bắt đầu xem xét những chủ đề có thể, hãy luôn nhớ rằng một bài luận là một sự lập luận được chuẩn bị và viết cẩn thận. Điều này có nghĩa là trong bài luận bạn sẽ cố thuyết phục người đọc rằng một số quan điểm về chủ đề nhất định là đáng tin cậy. Cho dù là bạn viết về việc cắt giảm vũ khí hạt nhân hay kiểu dày dành cho những người cao lớn, bạn sẽ cần xác định chủ đề để có thể đạt đến một chủ đề có thể tranh luận được. Chương đầu tiên sẽ bàn về một số yếu tố để có một lập luận thuyết phục, tuy nhiên những đề xuất sau đây có thể giúp bạn xác định một chủ đề.

    Một chủ đề có thể tranh luận có thể thuyết phục người đọc về một cái gì đó, làm thay đối ý nghĩ về một cái gì đó, hoặc khiến người đọc làm một cái gì đó. Ví dụ như bài luận trên mà chúng ta đã xem đã cố gắng làm thay đổi quan điểm của chúng ta về lý do tại sao Socrates bị kết tội chết, và thuyết phục ta có một sự giải thích khác, Socrates bị cộng đồng Athen loại trừ là một điều đúng. Người viết không đơn tường thuật lại những thông tin về triết lý của Socrates mà còn linh hoạt sử dụng những thông tin đó để chứng minh cho giải thích của mình về lý do ông bị kết tội.

    Một chủ đề có thể tranh luận sẽ nói về vấn đề mà không có một giải pháp dễ dàng; hoặc đưa ra những câu hỏi mà không hoàn toàn có câu trả lời; một trong những lý do bạn viết một bài luận là chứng minh khả năng của bạn trong suy nghĩ về một chủ đề, không phải là tổng hợp lại những gì bạn đã đọc hoặc nói trước đó. Một tác giả sẽ chọn một chủ đề sẽ không phải là những gì đã được đề cập một cách đầy đủ trong các cuốn bách khoa toàn thư; thay vào đó người viết lại nói về cái chết của Socrates khi xem xét cuốn sách "Lời Thú Tội" của Plato và một số ví dụ về những nhận định về cách con người phản ứng đối với những sự phê bình.

    Một chủ đề có thể tranh luận không nên dựa trên những niềm tin cá nhân. ở một mức độ nhất định, bất cứ một lập luận nào trình bày ý kiến của tác giả về một chủ đề; thực tế, bài luận sẽ không tồn tại nếu người viết không đưa những kinh nghiệm cá nhân và những quan sát của họ vào trong bài viết. Bên cạnh đó, các bài luận thường đúc kết cách giải quyết một vấn đề, điều đó có nghĩa là chúng dựa trên kinh nghiệm và quan sát nhiều hơn là những phương pháp suy diễn.

    Tuy nhiên bài viết của bạn phải tuân theo một số quy tắc suy luận nếu nó muốn đạt được tính thuyết phục. Ví dụ người viết ở trên có một số ý kiến về chủ đề, và phần kết đưa ra một tuyên bố có căn cứ về kết luận đã được nhắc đến: "những người Athen không sẵn sàng đón nhận những người như Socrates, và dường như bất cứ người nào hoặc cộng đồng nào xem những lời phê bình là mối đe doạ cũng sẽ có ứng xử như vậy." Tuy nhiên, người viết quan tâm đến việc quan điểm này dựa trên sự giải thích được minh hoạ bằng những ví dụ cụ thể và dễ hiểu. Tác giả cũng sử dụng những đoạn viết của Plato là bằng chứng tin cậy cho lập luận của mình, do đó bằng cách tìm ra những bằng chứng nguyên thuỷ để chứng minh nhận định về sự khiếm khuyết của con người, thay vì pháp luật, đã dẫn đến bản kết tội đối với Socrates. Cuối cùng, ví dụ về người nghiện rượu đưa ra cho người đọc một minh hoạ cụ thể để củng cố cho nhận định "con người không muốn chứng kiến sự khiếm khuyết và yếu đuối của mình." Bạn có thể thấy, tác giả đã bắt đầu với một "cái bướu" rằng những ý tưởng là thuyết phục, nhưng việc thuyết phục người đọc có vẻ như ngoài tầm với của họ.

    Một chủ đề có thể tranh luận nên đưa ra một lập trường mà những người đọc có thể trong thực tế không đồng ý. Điều này rất quan trọng trong việc xây dựng một bài luận. Nhiệm vụ của bạn khi là người viết không phải là trình bày "sự thật" (truth) với chữ viết hoa, mà đưa ra những sự giải thích (reasons) có thể hỗ trợ cho quan điểm (thesis) của bạn về một vấn đề. Đó là lý do, trong các bài luận của sinh viên, các giáo viên thường đánh dấu hoặc khoanh tròn những đoạn như không có gì cần nghi ngờ cả, điều đó hoàn toàn chắc chắn, một cách đúng để suy nghĩ về tình huống này. Trong phạm vi của một bài luận, bạn không thể đưa ra câu trả lời cuối cùng cho một vấn đề đang tranh luận, rất có thể bạn sẽ mắc những sai lầm đã được nói đến trong cuốn sách này, kết cục của một bài luận sẽ không thuyết phục được một độc giả sáng suốt. Viết một bài luận không có nghĩa là bạn phải chiến đấu với một ý tưởng như là một đấu sĩ, mà bạn đưa ra những lập luận thuyết phục nhất mà bạn có thể có cho một trong nhiều khía cạnh của một chủ đề. Hãy ghi nhớ những điều trên, hãy xem một câu trình bày một chủ đề không có tính tranh luận, sửa chữa lại để nó trở thành có thể tranh luận được.

    "Chính phủ có thể bãi bỏ một đạo luật ngăn cấm những công dân giữ súng trong nhà. Bác của tôi đã bị giết bởi vì ông không thể tự bảo vệ mình trước bọn trộm." Lời nói trên dựa quá nhiều vào ý kiến cá nhân, và khăng khăng về mối quan hệ nhân quả có thể là không đúng; mặc dù có thể là người bác của tác giả đã bị giết vì ông không có một khẩu súng, hậu quả không nhất thiết phải xuất phát từ thực tế được đưa ra. Sự minh hoạ như vậy có thể đưa ra một ví dụ có khả năng thuyết phục cho một luận điểm, nhưng cần được mở đầu bằng lời nói khách quan hơn. Hãy xem sự sửa đổi sau:
    "Có rất nhiều lý do đúng để bãi bỏ luật kiểm soát súng. Đối với tôi, lý do chủ yếu là những người lương thiện cần được phép tự bảo vệ chính mình. Bác của tôi đã bị giết trên giường ngủ bởi một tên trộm với khẩu súng. Lẽ ra ông ấy đã có thể tự bảo vệ mình nếu ông sở hữu một thứ vũ khí. Theo tôi nghĩ thì, đối với nhiều người việc kiểm soát vũ khí có hại nhiều hơn là bảo vệ những công dân."

    Mặc dù ví dụ của người viết vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm cá nhân, nhưng bây giờ nó đóng vai trò minh hoạ cho một nhận định mang tính tổng quát lớn hơn rằng các công dân cần được phép tự bảo vệ chính mình. Bên cạnh đó, người viết chú trọng giải thích rằng mình đang trình bày một quan điểm và mở ra một vấn đề. Một quan điểm rõ ràng như vậy kích thích mọi người tham gia vào những lập luận, thay vì bắt người đọc phải đồng ý với những gì được viết. Điều này làm lời nói có tính thuyết phục: nếu người đọc cảm thấy bạn đang nói với họ rằng cần nghĩ đến cái gì, thay vì đề xuất một quan điểm mà bạn có một số bằng chứng, chắc chắn họ sẽ kháng cự lại bằng mọi giá.
    Cụ thể hoá chủ đề của bạn

    Có thể bạn đã sử dụng những kỹ năng như động não, viết tự do, lập danh sách khi bạn bắt đầu tạo ý tưởng cho một bài luận. Những hoạt động như vậy thường được gọi là "trước lúc viết" (prewriting),có nghĩa là đó là một phần trong công việc của bạn trước khi bạn thực sự bắt tay vào viết bản thảo đầu tiên của bài luận. Nếu hiện tại bạn không sử dụng bất cứ một chuẩn mực nào để phát triển chủ đề của bạn, hãy xem xét qua những mô tả ngắn gọn của giai đoạn trước lúc viết. Để giúp bạn tập trung vào chủ đề, những hoạt động trước lúc viết sẽ cung cấp cho bạn thông tin về những luận cứ và những ví dụ bạn sẽ sử dụng để chứng minh cho lập luận của mình.
    Quá trình động não[69]

    Bạn có thể bắt đầu động não về chủ đề bằng cách thảo luận nhiệm vụ của bạn với giáo viên và bạn bè; ví dụ như đề xuất những ý tưởng, đặt ra các câu hỏi, và quan sát những khía cạnh của vấn đề cần được thảo luận theo quan điểm của bạn. Động não bằng một cái bút là việc ngồi xuống và viết trong khoảng thời gian nhất định, khoảng 20 phút, về chủ đề mà bạn đang suy nghĩ. Bạn viết ra những gì có thể nghĩ; dùng những câu hỏi, liệt kê, phác hoạ sơ qua. Bạn thậm chí có thể dùng những câu rời rạc mặc dù không có ý nghĩa với ai khác ngoài bạn. Khi kết thúc, bạn xem lại toàn bộ những gì mình viết ra để tìm những ý tưởng, các chứng cứ có thể hỗ trợ cho các luận cứ của bạn, và có thể là những điểm trọng tâm để bạn có thể sử dụng như là kết luận.
    Viết tự do

    Viết tự do cũng tương tự như động não, trừ việc nó yêu cầu bạn viết những câu dứt khoát và hoàn thiện. Một lần nữa, bạn nên viết tất cả những gì bạn có thể nghĩ về chủ đề tiềm năng, nhưng bên cạnh đó, bạn nên viết tất cả những gì bạn có thể nghĩ ra để không làm gián đoạn quá trình viết này. Thông thường, những sự kết hợp ngẫu nhiên có thể giúp bạn tìm ra những luận cứ có thể hỗ trợ cho lập luận của mình. (Một bài luận có lý thường bắt đầu bằng một "cái bướu trực giác" về một chủ đề.)
    Đặt vấn đề

    Một bài luận yêu cầu bạn phải thuyết phục được người đọc về quan điểm của bạn. Những câu hỏi sau đây có thể giúp bạn phân tích và tập trung vào chủ đề, do đó những luận chứng của bạn và kết luận trở nên đáng tin cậy hơn đối với người đọc:

    1. Bạn muốn kết luận gì về chủ đề này?

    2. Những ví dụ cụ thể nào sẽ hỗ trợ cho kết luận đó?

    3. Những nhận định cơ sở nào sẽ hỗ trợ cho những ví dụ đó?

    4. Những bằng chứng nào bạn có thể tìm để làm tăng tính thuyết phục trong kết luận của bạn?

    5. Những ý kiến phản bác có thể nảy sinh đối với kết luận của bạn?

    6. Bằng cách nào bạn nói rõ kết luận của mình?
    Xây dựng một luận đề

    Nhiều tác giả đã làm việc với những chiến lược đã được nêu ở trên và đạt đến những lời nói mang tính tranh luận, nhưng quá mập mờ để bao gồm trong phạm vi một bài luận ngắn. Một kỹ năng hữu ích để tập trung vào chủ đề liên quan đến một lời nói rất tổng quát và sửa đổi nhiều lần để trở thành một lời phát biểu cụ thể:

    Socrates bị buộc tội bởi vì xã hội của ông từ chối thừa nhận rằng ông đã đúng.
    1. Socrates bị buộc tội chết bởi vì những người Athen cảm thấy bị đe doạ bởi những điều mà ông giảng dạy.

    2. Socrates bị buộc tội chết không đơn giản là vì ông vi phạm các luật lệ, mà bởi vì người dân Athen thấy rằng niềm tin tôn giáo của ông, cùng với việc ông đặt câu hỏi về sự khôn ngoan của họ, là một mối đe doạ về phương diện cá nhân cũng như văn hoá.

    3. Socrates vị buộc tội chết không đơn giản vì ông vi phạm các luật lệ, mà còn bởi vì cộng đồng người Athen cảm thấy vị đe doạ vì nghi ngờ của ông đối với trí khôn và những giá trị của họ.

    Bạn có thể kết thúc với một câu rất dài mà có vẻ như lan man không dứt về chủ đề của bạn. Đừng nên lo lắng về việc viết những câu đúng vào lúc này; thay vào đó, hãy giải quyết những cái còn mập mờ, những đoạn còn chung chung để tìm ra giới hạn cho chủ đề mà bạn viết.
    Xem xét về mặt tu từ

    Thông thường những người viết thường bị mắc kẹt trong những quy tắc chi phối một bài luận truyền thống. Họ nghiêm túc tạo ra những luận đề, viết những bài luận với những sự mở đầu, thân bài, phần kết, nhưng không làm cho họ hài lòng khi trình bày những hiểu biết về chủ đề của họ, chủ đề mà họ đã có sự chuẩn bị, và đưa đến cho người đọc. Nhiều sinh viên cứ cho rằng người đọc của họ thực sự là người thầy và đánh dấu bằng bút đỏ; tuy nhiên, thực tế là kết quả lao động của các bạn sẽ được đọc và đánh giá bởi những giáo viên, nhưng người thầy của bạn muốn đọc một bài luận mà bạn viết một cách thích thú. Mục đích chính của các bạn khi viết một bài luận là thu hút sự tham gia của cả người đọc và người viết. John R.Trimble đã đưa ra một số điểm quan trọng khi nghĩ về các độc giả:
    "Viết là việc một người có ý định nghiêm túc để giao tiếp với một người khác. Rõ ràng là nó có liên quan đến cả người đọc lẫn người viết, do đó thành công của việc giao tiếp phụ thuộc hoàn toàn vào người đọc đón nhận nó như thế nào. Bởi vì có hơn một người có liên quan, và bởi vì mọi người đều có những cảm nhận, nó cũng có những quy tắc cơ bản giống như trong quan hệ giữa con người với nhau… nếu xa rời điều này, người viết đang nói chuyện với một thực thể khác, cũng giống như tôi đang nói chuyện với các bạn đây, nếu như vậy người giống bạn có thể cách đây hàng nhiều giờ, ngày và thậm chí là nhiều năm." (Viết Với Phong Cách: Trao Đổi Về Nghệ Thuật Viết. Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall, 1975, trang 15)

    Trimble tiếp tục nói rằng những yêu cầu khi nói với người đọc là viết một cách rõ ràng và hợp lý, về một chủ đề có thể tranh luận và đã được tập trung. Tuy nhiên ông cũng nói rằng bạn nên xem xét những khía cạnh sau đây của phép tu từ khi viết một bài luận.
    1. Diễn đạt suy nghĩ của bạn một cách rõ ràng nhất.

    2. Nói về những điểm mà bạn không muốn làm mất thời gian của người đọc.

    3. Dự đoán về những câu hỏi của bạn đọc và phản ứng của họ.

    4. Trình bày đa dạng và hóm hỉnh để thu hút người đọc.

    5. Giao tiếp với người đọc bằng một phong cách truyền cảm, thân thiện và rộng mở thay vì làm ra vẻ ta đây là người quan trọng nhất.

    Tóm lại Trimble nói với người viết hãy nói những gì mà họ hàm ý để những điều đó có thể hiểu được. Ý tưởng về việc viết một cách mạch lạc và rõ ràng có vẻ như là một việc dễ dàng, tuy nhiên nó có thể trở nên khó hiểu một cách khủng khiếp khi được pha trộn với những quy tắc chi phối quá trình viết một bài luận mang tính học thuật theo kiểu truyền thống. Những người viết là sinh viên được chỉ bảo viết theo phong cách trang trọng hơn là phong cách bình dân, sử dụng những liên từ lo-gic (tuy nhiên, do đó, bên cạnh đó, một mặc, bởi vì, nói tóm lại), và không bao giờ dùng ngôi thứ nhất số ít. Những quy tắc này không hẳn đã là những lời khuyên tốt. Mặt khác, người viết có thể cảm nhận được ít hơn những gì họ đang nói, và không kiểm soát được tính lo-gic của một bài luận. Ví dụ như bài luận trên đây được viết ra để đáp ứng các yêu cầu của một bài học, tác giả của nó không đưa ra những từ đao to búa lớn để gây ấn tượng với độc giả. Thay vào đó, người viết đã chọn ngôn ngữ của riêng mình để tạo ra một giọng điệu phức tạp nhằm giải thích và thuyết phục:
    "Để hiểu được quyết định của người dân Athen, trước tiên chúng ta phải hiểu được những bối cảnh xung quanh vụ án, cũng như làm quen với tính cách và niềm tin của Socrates. Tác phẩm Lời Thú Tội…. Đưa ra những bằng chứng về những giá trị của Socrates và những phương pháp suy luận của ông."

    Đoạn viết trên cho thấy người viết là một người am hiểu về chủ đề Socrates, nhưng hãy chú ý cách người viết dùng chữ, chúng rõ ràng là để đề nghị người đọc tham gia, thăm dò sự giải thích của mình. Bên cạnh đó, tác giả viện dẫn đến Plato để thể hiện những nỗ lực của mình trong việc kết hợp với những học giả suy nghĩ và viết về Socrates. Cuối cùng, tác giả không sử dụng những từ mang tính "nhồi nhét"; mọi ngôn từ đều phù hợp với những điểm trong bài luận. Khi tác giả dùng cụm từ "để hiểu được" (cũng như từ chúng ta, đây là một cụm từ trang trọng, một dấu hiệu của sự tao nhã) để tạo ra một sự chuyển đổi giữa phần mở đầu và phần thân bải của bài luận và cho phép người đọc đoán biết được tiến trình phân tích.
    Độc giả và sự lựa chọn ngôn từ

    Trong bài luận của mình "Sự Trong Sáng Của Tiếng Anh, Giờ Đã Bị Vẩn Đục" (Tuần Báo Princeton Alumni, 26 tháng 9, 1958), Willard Thorp đã đưa ra khái niệm "không tiếng Anh" để mô tả những người viết đã sử dụng thứ ngôn ngữ làm khó hiểu những ý tưởng mà họ cố gắng diễn đạt. Vấn đề là những lựa chọn sai lầm về từ ngữ, sử dụng những cách diễn đạt sáo mòn hoặc nhàm chán, và viết những câu dài dòng và đa ngôn. "Không tiếng Anh" đã nêu ra vấn đề trong khi viết mà bạn có thể sửa chữa; bạn chỉ cần bỏ ra thời gian để xem xét một cách chính xác điều bạn muốn nói ra, và với đối tượng độc giả nào bạn muốn giao tiếp. Nếu bạn nghĩ kỹ lưỡng về ý tưởng và độc giả của mình, thì bạn có thể quen với cấu trúc ba phần của một bài luận và dùng nó để nói với, chứ không phải nói cho người đọc của mình.

    Hãy xem hai câu biểu thị vấn đề "không tiếng Anh" và sửa chữa chúng sao cho chúng có thể diễn tả được ý chính một cách đơn giản và mạch lạc.
    Socrates, một con người có mối quan tâm lớn giữ trong mình niềm tin mãnh liệt bằng cách cho phép mình có bổn phận trước Chúa. Một số người đã thấy rằng Socrates là một người có nhận thức và đủ tiêu chuẩn để dạy dỗ và áp dụng những hiểu biết của ông đối với mọi người.

    Về mặt tu từ học, người viết cần đơn giản hoá cách dùng ngôn ngữ để người đọc hiểu được điều gì đang được nói đến (ví dụ như "một con người có mối quan tâm lớn"?). Về mặt lo-gic, hai câu trên dường như không có mối liên hệ với nhau, và cần được sửa chữa lại để chúng kết hợp với nhau diễn đạt ý nghĩ của người viết. Về mặt ngữ pháp, người viết cần chú trọng đặc biệt đến dấu câu. Hãy xem xét các câu sau khi sửa:
    Sự tận tuỵ của Socrates trong công việc của mình đối với người dân Athen được dựa trên niềm tin tôn giáo; thực tế, ông nói về công việc của ông như là trách nhiệm được Chúa trời giao phó; mặc dù hầu hết người Athen lên án những triết lý của ông, một số người thừa nhận rằng ông là một người thầy hiểu biết và tài năng.

    Xắp xếp các đoạn văn một cách hiệu quả.

    Phần lớn, cấu trúc của những đoạn văn được xắp xếp tốt xoay quanh mọi khía cạnh khi viết đã được nói ở trên. Nếu bạn nghĩ về ý tưởng của mình, động não về những chi tiết, sửa chữa các câu khi chúng đạt đến một sự miêu tả cụ thể, từng luận điểm chi tiết hỗ trợ cho các kết luận của bạn, và nghĩ về hình thức của bài luận, những đoạn văn được viết rõ ràng dường như là cách hợp lý nhất để bạn biểu đạt các ý tưởng của mình. Một số nguyên tắc giúp bạn cấu trúc các đoạn văn của mình:
    1. Các đoạn văn kết hợp với nhau một cách tổng thể trong một bài luận, nó như là việc xây dựng một toà nhà mà chúng ta phải dựa trên một luận đề. Ví dụ, đoạn thứ hai của bài luận trên đã bắt đầu bằng một viễn dẫn đến đoạn đầu tiên: "để hiểu được quyết định của người Athen," sau đó đi đến diễn giải những giải thích của mình về các phương pháp và động cơ của Socrates. Nếu bạn xem xét những phần khác của bài luận (hoặc những bài luận được viết tốt khác), bạn sẽ thấy rằng hầu hết các đoạn văn đều viễn dẫn những đoạn văn trước đó và phù hợp với chúng.

    2. Các đoạn văn cũng đóng vai trò như là một đơn vị chứa đựng một luận điểm. Sự lùi vào khi bắt đầu một đoạn văn báo hiệu cho người đọc rằng một luận điểm đang được trình bày và sẽ được chứng minh bằng những bằng chứng. Độ dài của một đoạn văn chuẩn (300 đến 500 từ) đủ để xây dựng một ý tưởng. Tuy nhiên độ dài truyền thống này giúp người viết tập trung và bám sát ý tưởng được trình bày trong đoạn văn.

    3. Cuối cùng, những đoạn văn có thể được xem là những bài luận thu nhỏ. Mặc dù các đoạn văn trong một bài luận phụ thuộc lẫn nhau và vào luận đề của bài luận, mỗi đoạn văn đều chứa một ý tưởng chủ đạo, những minh hoạ, và tổng hợp một điểm hoặc ví dụ được trình bày trong đó. Thậm chí trong các đoạn ban đầu và đoạn chuyển tiếp, chúng đóng vai trò giới thiệu đến người đọc về một ý tưởng hơn là giải thích nó, thường là theo phương thức đi từ tổng quát đến cụ thể. Khi bạn viết các đoạn văn, bạn sẽ thấy rằng duy trì phương thức này sẽ giúp bạn giới thiệu, giải thích và tổng hợp những sự diễn giải của mình.

    Hãy xem xét một đoạn văn đứng riêng biệt để hiểu hơn về những yếu tố này. Ví dụ được trích ra từ bài luận của Coretta Scott King, "Tại Sao Chúng Ta Không Thể Chờ Đợi Nữa" (Tuần Tin Tức, 1976):
    "Lý do đầu tiên là… tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao (giữa những người mỹ gốc phi) thì chẳng gì khác ngoài sự dự báo là tương lai nước mỹ sẽ xấu đi thay vì tiến bộ. Những người lao động tạo ra của cải của nước mỹ không chỉ là những cá nhân độc lập mà còn là trụ cột mà sức khoẻ của toàn bộ cộng đồng của chúng ta dựa vào. Một người với một công việc tử tế sẽ hỗ trợ bố mẹ già của anh ta và sức mạnh bảo đảm ổn định cho những người hàng xóm và thành phố. Những đường phố sạch sẽ và an toàn, những ngôi nhà khang trang, chăm sóc y tế đầy đủ và thậm chí là hoà bình giữa các dân tộc là tất cả những mục tiêu chỉ có thể xuất phát từ công việc ổn định. Nếu không có một công việc tử tế……..có thể làm được cái gì ngoại trừ gây tổn thương đến sự lãnh đạm đối với những vết thương của thất nghiệp. Tương lai của nước mỹ sẽ không là gì ngoài sự nguy nan. Hiện nay một thế hệ đang lớn lên, có quá nhiều gia đình mà bố mẹ không có việc làm. Sự cam chịu trước tỷ lệ thất nghiệp cao trong năm 1980 sẽ chẳng là cái gì ngoài một sự bảo đảm rằng chúng ta sẽ bước đi trên những con đường bị bẩn, đi qua những người trẻ tuổi đau đớn, những người già với đôi mắt u buồn trong thế kỷ 21. Tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ chẳng là gì ngoài sự đầu tư rẻ tiền trong sự suy tàn liên tục."

    Nếu chúng ta phân tích đoạn văn này theo những quy tắc ở trên, chúng ta có thể thấy nhiều cách trong đó nó bám sát vào những tiêu chuẩn của một đoạn văn tốt. Trước hết, xây dựng mối quan hệ với đoạn văn trước đó để nó đóng vai trò như là một sự hỗ trợ cho một quan điểm đã được nêu ra, nhưng quan điểm này cần được làm rõ hơn. Tiếp theo, đoạn văn này đi vào chứng minh một kết luận chính: khi đe doạ đời sống của những cá nhân, thất nghiệp đã đe doạ đến một quốc gia. Mỗi ví dụ trong đoạn văn đều liên quan đến điểm này, và các ví dụ được trình bày theo một trình tự lo-gic. Đoạn văn cũng chứa đựng một sự mở đầu: "Lý do trước hết...". Mỗi đoạn có những ví dụ cụ thể, và một kết thúc nêu ra kết luận cùng với những lý luận chứng minh: "tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ chẳng là gì ngoài sự đầu tư nghèo nàn vào sự suy tàn liên tục."

    Khi bạn xây dựng một đoạn văn, hãy để ý bạn có thể sửa chữa chúng để chúng phản ánh những quy tắc này không. Sau khi bạn nắm được dạng thức này, bạn có thể biến đổi cấu trúc của mình một chút. Bên cạnh đó, hãy tự hỏi những câu sau đây khi bạn xem xét toàn bộ bản thảo của mình
    1. Đoạn văn có chứa đựng một ý chính không? Và ý chính đó có được diễn đạt rõ ràng và đơn giản hay không?

    2. Những thông tin trong đoạn văn đó có hỗ trợ cho ý chính hay không?

    3. Có thông tin nào không cần thiết hay không?

    4. Có thông tin nào bị bỏ sót?

    5. Các đoạn văn có liên kết với nhau hay không? Các liên từ lo-gic có được sử dụng thích hợp hay không: tuy nhiên, mặt khác, bởi vì, bên cạnh đó, ngược lại và lý do trước hết?

    Sửa chữa


    Khi bạn làm việc với một bài luận, bạn sẽ thấy rằng nhiều hoạt động cần được tập trung vào việc viết lại những gì mà bạn viết cách đây mười lăm phút. Sửa chữa là điều cần thiết trong quá trình viết. Chương 2 của cuốn sách này giải thích rằng ngôn ngữ mang tính quy nạp, tính nhân tạo và cần phải học; và việc viết lách cũng như vậy. Bạn sẽ thường xuyên phải viết ít nhất ba bản nháp về bài luận nếu bạn muốn có một sự thoả mãn về sản phẩm cuối cùng. Bản nháp đầu tiên có thể tập hợp những ý định của bạn một cách lờ mờ; nó có thể không mạch lạc, nhiều từ viết sai hoặc sử dụng sai, và phạm vi của nó quá lớn. Nhưng bản nháp đầu tiên sẽ giúp bạn có được những đoạn văn bản để bạn có thể làm việc; hãy đọc và tìm xem những đoạn nào có nghĩa và những đoạn nào không, hãy nghĩ về cấu trúc mà bạn sử dụng, sau đó viết bản nháp thứ hai. Bản nháp này cần được một người khác đọc, có thể là bạn bè… Người có thể giúp bạn tìm ra những đoạn văn được tổ chức không đúng, ví dụ không đúng, những chữ viết sai và dùng sai. Bản nháp thứ ba rất có thể là một bản thảo rõ ràng và hợp lý; tuy nhiên bạn vẫn cần phải kiểm tra cẩn thận về các lỗi ngữ pháp. Lựa chọn viết bản nháp bao nhiêu lần là tuỳ bạn; hãy luôn nhớ, nếu không có sự sửa đổi nhiều lần và liên tục thì hầu như không thể có được một văn bản được viết một cách rõ ràng, thuyết phục.
    3. Chú Ý Cuối Cùng: Ngữ Pháp và Cách Sử Dụng

    Đoạn chỉ dẫn ngắn này không thể đề xuất một lời khuyên cụ thể về các phần của một bài luận và về các lỗi của câu trong quá trình viết. Những sự trải nghiệm mà bạn có thể có trong quá trình viết các bài luận đã cho thấy sự cần thiết của việc viết các câu đúng ngữ pháp. Các giáo viên có thể có đánh giá khác nhau về cách mà bạn trình bày lập luận của mình, nhưng họ luôn muốn nhìn thấy những tiêu chuẩn được tuân thủ về dấu câu, sự hoà hợp giữa động từ-chủ ngữ, đại từ, cấu trúc song song, v.v…. cách hiệu quả nhất để bạn học được và áp dụng những quy tắc viết câu đúng là mua một cuốn giáo trình dành cho các nhà văn và biên tập. Một số được liệt kê dưới đây. Các giáo trình có các ví dụ cụ thể, dễ hiểu về các quy tắc trong khi viết, và thường đưa ra một số bài tập để bạn thực hành. Các tài liệu được nêu ra dưới đây cũng nêu ra vấn đề viết tốt một câu văn, cũng giống như viết tốt một bài luận, bao gồm các vấn đề lo-gic, tu từ cũng như các quy tắc ngữ pháp.
    [67] Writing with Clarity and Reason
    [69] brainstorming

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •