Trang 3 của 7 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 62
  1. #21
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    3
    chương 20

    Tuyệt học vô ưu.

    Duy chi dữ a , tương khứ kỉ hà ? thiện chi dữ ác , tương khứ nhược hà ? nhân chi sở úy , bất khả bất úy . Hoang hề kì vị ương tai !

    Chúng nhân hi hi , như hưởng thái lao , như xuân đăng đài. ngã độc bạc hề kì vị triệu ﹔như anh nhi chi vị hài ﹔luy luy hề nhược vô sở quy . Chúng nhân giai hữu dư , nhi ngã độc nhược di . ngã ngu nhân chi tâm dã tai , độn độn hề !Tục nhân chiêu chiêu , ngã độc hôn hôn . Tục nhân sát sát , ngã độc muộn muộn , đạm hề kì nhược hải , liêu hề nhược vô chỉ . Chúng nhân giai hữu dĩ , nhi ngã độc ngoan thả bỉ . Ngã độc dị ư nhân , nhi quý thực mẫu .


    DỊCH NGHĨA

    Dứt học thì không lo. Dạ (giọng kính trọng) với ơi (giọng coi thường) khác nhau bao nhiêu? Thiện với ác khác nhau thế nào? Cái người ta sợ, ta không thể không sợ. Rộng lớn thay, không sao hết được!

    Mọi người hớn hở như hưởng bữa tiệc lớn, như mùa xuân lên đài; riêng ta điềm tĩnh, không lộ chút tình ý gì như đứa trẻ mới sinh, chưa biết cười; rũ rượi mà đi như không có nhà để về.

    Mọi người đề có thừa, riêng ta như thiếu thốn; lòng ta ngu muội, đần độn thay!

    Người đời sáng rỡ, riêng ta tối tăm; người đời trong trẻo, riêng ta hỗn độn, như sóng biển nhấp nhô, như gió vèo vèo không ngừng.

    Mọi người đều có chỗ dùng, riêng ta ngoan cố mà bỉ lậu. Riêng ta khác người, mà quí mẹ nuôi muôn loài (tức đạo).



    LỜI BÀN

    Chương này có nhiều bản, nếu dẫn hết những chỗ khác nhau thì quá rườm.

    Bốn chữ đầu "tuyệt học vô ưu", Trần Trụ bảo nên để ở đầu chương trên, Hồ Thích bảo nên để ở cuối chương trên. Để ở đâu cũng khó ổn.

    Rồi cả đoạn đầu, ý nghĩa cũng tối tăm, cơ hồ không liên lạc gì với đoạn dưới. "Cái người ta sợ" là cái gì? Và cái gì "rộng lớn thay"?

    Mỗi nhà rán đưa ra một thuyết. Có người bảo là sợ cái học vì nó mênh mông, không sao hết được. Giảng như vậy thì bốn chữ "tuyệt học vô ưu" không chơi vơi nữa.

    Nhưng có nhà lại bảo: sợ đây là sợ để lộ cái sáng suốt, tài năng của mình ra, mà sẽ bị người đời đố kỵ; còn rộng lớn là cái đạo rộng lớn, người đời không sao hiểu hết được.

    Cả hai giả thuyết đó đều không dựa vào cái gì chắc chắn cả. Chúng tôi xin tồn nghi, chỉ dịch sát từng chữ, để độc giả muốn hiểu sao thì hiểu.

    Đoạn dưới tả chân dung một người đắc đạo: cực sáng suốt thì như ngu độn.

  2. #22
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    355
    chương 21

    Khổng đức chi dung , duy đạo thị tòng . Đạo chi vi vật , duy hoảng duy hốt ; hốt hề hoảng hề , kì trung hữu tượng ﹔hoảng hề hốt hề , kì trung hữu vật ﹔yểu hề minh hề , kì trung hữu tinh ﹔kì tinh thậm chân , kì trung hữu tín . Tự cổ cập kim , kì danh bất khứ , dĩ duyệt chúng phủ . Ngô hà dĩ tri chúng phủ chi trang tai . Dĩ thử .


    DỊCH NGHĨA

    Những biểu hiện của đức lớn đều tùy theo đạo (vì đạo là bản thể của đức, đức là tác dụng của đạo).

    Đạo là cái gì chỉ mập mờ, thấp thoáng; thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng; mập mờ, thấp thoáng mà bên trong có vật; nó thâm viễn, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy; tinh túy đó rất xác thực, và rất đáng tin.

    Từ xưa đến nay, đạo tồn tại hoài, nó sáng tạo vạn vật. Chúng ta do đâu mà biết được bản nguyên của vạn vật? Do cái đó (tức đạo).


    LỜI BÀN

    Câu đầu, có người hiểu là: ngôn ngữ, cử động của người có đức lớn đều tùy theo đạo.

    Chữ "tinh" (kỳ trung hữu tinh) trong đoạn thứ nhì có thể hiểu là nguyên lý và nguyên chất của mọi vật. Chữ "tín" ở sau, có người dịch là hiệu năng, diệu dụng (efficience).

    Đoạn cuối: chữ "danh" (tên) có người cho là trỏ bản thể của đạo.

    Chương này cho ta biết thêm về đạo. Quan trọng nhất là những chữ "kỳ trung hữu tinh, kỳ tinh thậm chân, kỳ trung hữu tín". Nhờ cái "tinh" đó mà đạo sinh ra vạn vật. Nhưng cái tinh đó hữu hình hay vô hình?

    Không có gì cho chúng ta biết chắc được. Có lẽ nó vừa là nguyên lý, vừa là nguyên chất.

  3. #23
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Chương 22

    Khúc tắc toàn , uổng tắc trực , oa tắc doanh , tệ tắc tân , thiếu tắc đắc , đa tắc hoặc . Thị dĩ thánh nhân bão nhất vi thiên hạ thức . Bất tự hiện cố minh bất tự thị cố chương ﹔bất tự phạt ,cố hữu công ﹔bất tự căng cố trướng . Phù duy bất tranh cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh . Cổ chi sở vị khúc tắc toàn giả , khởi hư ngôn tai !thành toàn nhi quy chi .


    DỊCH NGHĨA

    Cong [chịu khuất] thì sẽ được bảo toàn, queo thì sẽ thẳng ra, trũng thì sẽ đầy, cũ nát thì sẽ mới, ít thì sẽ được thêm, nhiều thì sẽ hóa mê.

    Vì vậy mà thánh nhân[thánh ở đây hiểu theo quan niệm của Lão] ôm giữ lấy đạo [nhất đây là đạo] làm phép tắc cho thiên hạ. Không tự biểu hiện cho nên mới sáng tỏ, không tự cho là phải cho nên mới chói lọi, không tự kể công cho nên mới có công, không tự phụ cho nên mới trường cửu [hoặc hơn người]. Chỉ vì không tranh với ai cho nên không ai tranh giành với mình được.

    Người xưa bảo: "Cong thì sẽ được bảo toàn", đâu phải hư ngôn! Nên chân thành giữ vẹn cái đạo mà về với nó.


    LỜI BÀN

    Câu cuối: "Thành toàn nhi qui chi" có người dịch là:

    - Thực vẹn đủ nên theo về.

    - Nếu thành thật hoàn toàn thì ai cũng về với mình.

    - Do đó mà mình giữ được toàn vẹn.

    - Thực giữ được vẹn cái đạo chuyên đạo cũng giữ được vẹn cho mình mà mình về với đạo.

    Các nhà bình giải đều cho rằng bốn hoặc cả sáu châm ngôn trong câu đầu: 【khúc tắc toàn, uổng tắc trực, oa tắc oanh, tệ tắc tân, thiểu tắc đắc, đa tấc hoặc】đều là thành ngữ trong dân gian đã có từ xưa. Họ bảo rằng: "Lão tử thích chủ trương thuyết tương đối, nên thường nói ngược với người đời, "nhu tri kì hùng, thủ kì thư, tri kì bạch, thủ kì hắc, tri kì vinh, thủ kì nhục" (chương 28). Ở đây cũng vậy. Người ta ai cũng muốn được toàn vẹn, thẳng, đầy, mới, có nhiều, riêng ông, cái gì người ta bỏ:cong, queo, trũng, cũ nhát, ít, thì ông lại coi trọng".

    Đạo vốn khiêm, nhu, người giữ đạo cũng phải khiêm nhu: cong, queo, tức là nhu, trũng, cũ, ít tức là khiêm. Khiêm nhu thắng được tự phụ cương cường. Đó là một lẽ. Còn lẽ nữa là trong vũ trụ không có cái gì bất di bất dịch, thịnh rồi suy, đầy rồi vơi, cho nên bây giờ ở vào trạng tháicong queo thì sau sẽ bảo toàn được sẽ thẳng ra; bây giờ ở vào trạng thái thấp trũng, cũ nát, ít thì sau sẽ được đầy, mới, nhiều.

    Những kinh nghiệm đó thuộc vào cái túi khôn chung của nhân loại, chẳng riêng của Trung Hoa; Lão tử chỉ có công nhấn mạnh vào coi trọng nó hơn những người khác và sắp đặt thành một hệ thống mà dùng đạo, tức luật thiên nhiên làm cơ sở.

  4. #24
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    9
    Chương 23

    Hi ngôn tự nhiên .

    Cố phiêu phong bất chung triêu , sậu vũ bất chung nhật . Thục vi thử giả ? Thiên địa . Thiên địa thượng bất năng cửu , nhi huống ư nhân hồ ? Cố tòng sự ư đạo giả , đồng ư đạo ﹔đức giả , đồng ư đức ﹔thất giả , đồng ư thất . Đồng ư đạo giả , đạo diệc lạc đắc chi ﹔đồng ư đức giả , đức diệc lạc đắc chi ﹔đồng ư thất giả , thất diệc lạc đắc chi .

    Tín bất túc yên , hữu bất tín yên .


    DỊCH NGHĨA

    Ít nói thì hợp với tự nhiên (với đạo).

    Cho nên gió lốc không hết buổi sáng, mưa rào không suốt ngày. Ai làm nên những cái ấy? Trời đất. Trời đất còn không thể lâu được, huống hồ là người?

    Cho nên theo đạo thì sẽ hòa đồng với đạo; theo đức thì sẽ hòa đồng với đức; theo sự mất đạo mất đức thì sẽ là một với "mất". Hòa đồng với đạo thì sẽ vui được đạo; hòa đồng với đức thì sẽ vui được đức; là một với "mất" thì sẽ vui với "mất".

    Vua không đủ thành tín thì dân không tin.


    LỜI BÀN

    Chữ "thất" (mất) trong đoạn nhì có lẽ là chữ thất trong chương 38: thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ; và có thể hiểu là sự mất đạo, mất đức.Theo sự mất đạo mất đức tức là theo nhân, nghĩa, lễ, theo cách trị dân của Khổng Giáo. Lão tử cho cách đó là thấp.

    Câu "đồng ư đạo giả, đạo diệc lạc đắc chi", có thể hiểu là hòa đồng với đạo thì đạo cũng vui được ta mà hòa đồng với ta. Như vậy là nhân cách hóa đạo. Hai câu sau cũng vậy. Hiểutheo cách này với hiểu như chúng tôi đã dịch, chung qui cũng không khác nhau.

    Câu cuối đã có ở Chương 17. Ở đây vì không chắc là nói về việc trị dân, cho nên có thể dịch là:

    - Lòng tin ở đạo không đủ, cho nên có sự không tin,

    - Hoặc mình không tin mình thì người không tin mình, dẫu có nói nhiều cũng vô ích; như vậy ứng với câu đầu: nên ít nói để hợp với đạo.

    Chương này, xét từng câu thì nghĩa dễ hiểu. Nhưng tìm liên lạc giữa các ý thì rất khó, mỗi người đưa ra một cách giảg; cách nào cũng không xuôi. Chẳng hạn có người giảng:

    Người học đạo phải hòa đồng với đạo mà đạo tức thiên nhiên không nói (trời đất nói gì đâu mà mọi vật đều thành tựu), vậy ta cũng nên ít nói, đừng để "nổi" lên những cơn mưa bão trong lòng" (!). Hòa đồng với đạo thì sẽ vui được đạo; muốn vậy phải dốc lòng tin đạo.

  5. #25
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Chương 24

    Xí giả bất lập ﹔khoá giả bất hành ﹔tự hiện giả bất minh ﹔tự thị giả bất chương ﹔tự phạt giả bất công ﹔tự khoa giả bất trường . Kì tại (ư) đạo dã viết: dư thực chức hành (hình) , vật hoặc ố chi , cố hữu đạo giả bất xử (cư) .


    DỊCH NGHĨA

    Kẻ kiểng chân không đứng được (vững), kẻ xoạc cẳng không đi được (lâu), kẻ tự biểu hiện thì không sáng tỏ, kẻ tự cho là phải thì không chói lọi, kẻ tự kể công thì không có công, kẻ tự phụ thì không trường cửu. Đối với đạo thì những thái độ đó là "những đồ ăn thừa, những cục bướu, ai cũng ghét". Cho nên kẻ theo đạo không làm như vậy.


    LỜI BÀN

    Ý trong câu thừ nhì: "Tự hiệu giả minh ... tự khoa giả bất trường" đã được diễn trong Chương 22.

    Câu thứ ba, nhiều nhà cho chữ hành với chữ hình đọc giống nhau, dùng thay cho nhau được. Chúng tôi theo chủ trương đó. Có người dịch là việc làm, chức hành là việc làm thừa, như kiểu vẽ rắn thêm chân.

  6. #26
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    11
    Chương 25

    Hữu vật hỗn thành , tiên thiên địa sinh . Tịch hề liêu hề , độc lập nhi bất cải , chu hành nhi bất đãi , khả dĩ vi thiên địa mẫu . Ngô bất tri kì danh , tự chi viết đạo , cưỡng vị chi danh viết đại . Đại viết thệ , thệ viết viễn , viễn viết phản . Cố đạo đại , thiên đại , địa đại , nhân diệc đại . Vực trung hữu tứ đại , nhi nhân cư kì nhất yên . Nhân pháp địa , địa pháp thiên , thiên pháp đạo , đạo pháp tự nhiên .


    DỊCH NGHĨA

    Có một vật hôn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng (vô thanh) trống không (vô hình), đứng một mình mà không thay đổi (vĩnh viễn bất biến), vận hành khắp vũ trụ mà không ngừng, có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết nó là gì, tạm đặt tên nó là đạo, miễn cưỡng gọi nó là lớn (vô cùng).

    Lớn (vô cùng) thì lưu hành (không ngừng), lưu hành (không ngừng) thì đi xa, đi xa thì trở về (qui căn). Cho nên đạo lớn, trời lớn, đất lớn, người cũng lớn. Trong vũ trụ có bốn cái lớn mà người là một. Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước đạo, đạo bắt chước tự nhiên.


    LỜI BÀN

    Cuối đoạn đầu, "tự chi viết đạo", "danh chi viết đại", có người dịch "đặt tên tự là đạo", "gọi tên là lớn". Dư Bồi Lâm bảo chữ danh ở đây có nghĩa là "hình dung", như chữ dung trong "cưỡng vị chi dung" ở chương 15; vậy nên dịch là "miễn cưỡng tả nó là lớn".

    Đoạn sau, ba chữ "nhân diệc đại", bản cổ nhất chép là "vương (vua) diệc đại", nhưng dù vương hay nhân, nghĩa cũng không khác: vua là chúa của loài người, đại biểu cho loài người, vậy vua lớn, tức là loài người lớn. Phó Dịch sửa lại nhân cho hợp với câu sau: "nhân pháp địa, địa pháp thiên..."

    Câu cuối "đạo pháp tự nhiên", chúng tôi dịch sát là: đạo bắt chước tự nhiên, nhưng phải hiểu: đạo tức là tự nhiên, đạo với tự niên là một, vì ngoài đạo ra không có gì khác nữa.

    Chương này diễn lại vài ý trong các chương 1, chương 14, chương 16 và thêm ý này: đạo là tự nhiên.

  7. #27
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Chương 26

    Trọng vi khinh căn , tĩnh vi táo quân . Thị dĩ thánh nhân chung nhật hành bất li tri trọng . Tuy hữu vinh quan , yên xử siêu nhiên . Nại hà vạn thặng chi chủ , nhi dĩ thân khinh thiên hạ ? khinh tắc thất căn , táo tắc thất quân .


    DỊCH NGHĨA

    Nặng là gốc rễ của nhẹ, tĩnh là chủ của náo động; Cho nên thánh nhân (tức vua) suốt ngày đi không lìa xe chở đồ dùng (nặng) tuy được sự sang đẹp mà lòng nhàn tĩnh vượt lên cả (coi thường ngoại vật).

    Ông vua một nước có vạn cỗ xe (một nước lớn) sao lại có thể lấy thân coi nhẹ thiên hạ? Nhẹ thì mất gốc rễ, náo động thì mật chủ.


    LỜI BÀN

    Chữ quan trong câu nhì có thể đọc là quán; vinh quán là chỗ ở sang trọng.

    Cái gì nặng thì chế ngự được cái nhẹ; cái gì tĩnh thì chế ngự được cái náo động. Nặng, tĩnh là "thường" (trái với biến); nhẹ, náo động là biến. Người theo đạo giữ "thường" mà bỏ biến.

    Lão Tử khuyên các nhà cầm quyền phải dè dặt, thận trọng, và đừng để cho ngoại vật, vinh hoa phú quý làm động lòng.

  8. #28
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Chương 27

    Thiện hành vô triệt tích ﹔thiện ngôn vô hà trích ﹔thiện số bất dụng trù sách ﹔thiện bế vô quan kiện nhi bất khả khai ﹔thiện kết vô thằng ước nhi bất khả giải . Thị dĩ thánh nhân thường thiện cứu nhân , cố vô khí nhân ﹔thường thiện cứu vật , cố vô khí vật . thị vị tậpminh . Cố thiện nhân giả , bất thiện nhân chi sư ﹔bất thiện nhân giả , thiện nhân chi tư . Bất quý kì sư , bất ái kì tư , tuy trí đại mê . Thị vị yếu diệu .


    DỊCH NGHĨA

    Khéo đi thì không để lại dấu xe, vết chân; khéo nói thì không có lỗi lầm; khéo tính thì không dùng thẻ; khéo đóng thì không dùng then, ráng mà mở không được; khéo buộc thì không dùng dây mà cởi không được.

    Cho nên thánh nhân giỏi cứu người mà không ai bị bỏ; giỏi cứu vật mà không vật nào bị bỏ. Như vậy là sáng lòng [đức của mình và của người và vật cùng nhau sáng tỏ].

    Cho nên người thiện [người đắc đạo] là thầy của người không thiện [người không đắc đạo], người thường; người không thiện là của dùng để người thiện mượn. Không trọng thầy, không yêu của dùng thì dù cho không cũng là lầm lẫn lớn. Thế gọi là cốt yếu, nhiệm màu.


    LỜI BÀN

    Đoạn đầu có thể hiểu là: khéo xử sự thì [thuận tự nhiên nên] không lưu lại dấu vết; khéo nói thì [trầm mặc, ít nói, nên] không lỗi lầm, khéo tính toán thì [vô tâm, vô trí nên] không ùng mưu lược; khéo lung lạc người khác thì [thành thực với người nên] không cần giam hãm người, người cũng không bỏ mình mà đi; khéo kết nạp nhân tâm thì không cần trói buộc người, người cũng không bỏ mình mà đi.

    Đại ý của chương là: cứ thuận tự nhiên, đừng có tư ý, mưu mô thì dùng được mọi người, không phải bỏ ai, mình dạy cho người, người giúp đỡ lại mình mà đức mình càng thêm tỏ.

  9. #29
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    722
    Chương 28

    Tri kì hùng, thủ kì thư, vi thiên hạ khê; vi thiên hạ khê thường đức bất li, phục quy ư anh nhi. Tri kì bạch, thủ kì hắc vi thiên hạ thức; vi thiên hạ thức,  thường đức bất thắc, phục quy ư vô cực. Tri kì vinh, thủ kì nhục, vi thiên hạ cốc; vi thiên hạ cốc, thường đức nãi túc, phục quy ư phác. Phác tản tắc vi khí,  thánh nhân dụng chi, tắc vi quan trường, cố đại chế thập bất cát .


    DỊCH NGHĨA

    Biết trống (nam tính), giữ mái (nữ tính), làm khe nước cho thiên hạ, làm khe nước cho thiên hạ, thì cái đức vĩnh cửu bất biến sẽ không mất mà trở về trẻ thơ (hồn nhiên).
    Biết trắng, giữ đen, làm phép tắc cho thiên hạ; làm phép tắc cho thiên hạ thì cái đức vĩnh cửu bất biến sẽ không sai lạc, mà trở về với vô cực (bản thể của đạo). Biết vinh, giữ nhục, làm cái hay cho thiên hạ; làm cái hay cho thiên hạ thì cái đức vĩnh cửa bất biến sẽ đầy đủ, mà trở về mộc mạc như gỗ chưa đẽo. Gỗ chưa đẽo chưa đẽo, xẻ ra thành đồ dùng; thánh nhân giữ thuần phác mà điều khiển trămquan, cho nên người giỏi trị nước không chi cắt chi li.


    LỜI BÀN

    Theo Cao Hanh thì 23 chữ từ "thủ kỳ hắc" tới "tri kỳ vinh" là do người sau thêm vào; ông đưa ra sáu chứng cứ: chẳng hạn chương 41 có 4 chữ: "Đại bạch nhược nhục" (rất trong tráng thì như ô nhục, không tự biểu hiện mình ra), như vậy là Lão tử đem bạch đối với nhục, chứ không đem bạch đối với hắc; vả lại khê với cốc, nghĩa cũng như nhau, như vậy là thừa...

    Nhưng đa số các bản đều giữ như cũ.

    "Trống" tượng trưng tính cương, động; "mái" tượng trưng tính nhu, tĩnh. "Trắng" tượng trưng sự quang minh, "đen" tượng trưng sự hôn ám: người giữ đạo thì không tranh sự quang minh với ai mà thích ở trong bóng tối.

    Câu cuối khuyên người trị dân phải hồn nhiên, chất phác, cứ tự nhiên để cho mọi vật phát triển theo tính của chúng, không đa sự, phân tích chi li.

  10. #30
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Chương 29

    Tương dục thủ thiên hạ nhi vi chi ,ngô kiến kì bất đắc dĩ . Thiên hạ thần khí ,bất khả vi dã, bất khả chấp dã . Vi giả bại chi ,chấp giả thất chi . Cố vật ,hoặc hành hoặc tuỳ ,hoặc hư hoặc xuy ,hoặc cường hoặc lụy ,hoặc tải hoặc huy . Thị dĩ thánh nhân khứ thậm ,khứ xa ,khứ thái .


    DỊCH NGHĨA

    Muốn trị thiên hạ mà hữu vi thì ta biết là không thể được rồi. Thiên hạ là một đồ vật thần diệu, không thể hữu vi, không thể cố chấp được. Hữu vi thì làm cho thiên hạ hỏng, cố chấp thì mất thiên hạ.
    Cho nên, sinh vật (người) hoặc đi trước (tích cực) hoặc đi theo (tiêu cực), hoặc hà hơi (cho ấm) hoặc thở (cho nguội), hoặc mạnh hoặc yếu, hoặc an hoặc nguy. Cho nên thánh nhân bỏ những cái gì thái quá.


    LỜI BÀN

    Câu đầu, chữ "thủ" có nghĩa là trị, như trong câu: "Thủ thiên hạ thường dĩ vô sự (trị thiên hạ nên dùng chính sách vô vi) ở chương 48. Chữ "vi" cũng trong câu đó, nhiều người dịch là làmtheo ý mình, không thuận theo tự nhiên. Chúng tôi dịch là hữu vi cho rõ nghĩa hơn.

    Câu nhì, bản của Vương Bật là "tỏa" (bẻ gãy), bản của Hà Thượng Công là "tải"; chữ "huy" dùng như chữ "trụy". "Tải" là ngồi xe (được xe chở đi), trụy là té; nghĩa bóng là an và nguy.

    Đại ý của chương này cũng là trị dân nên vô vi tránh cực đoan mà cứ thuận theo tự nhiên, vì người và việc đời đổi thay vô định, không thể làm theo ý riêng của ta được.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •