Trích dẫn Gửi bởi hinalsvn
Có một số nhà ngôn ngữ đã giải thích về tên gọi Giao Chỉ theo cách khác.

"Giao" có âm Nôm xưa là "keo", chỉ vùng đất thấp, ngập nước, gần các ngã ba sông, cửa biển. Từ "keo"(dính) hiện nay ít nhiều cũng dính tới nghĩa cũ đó.

Thời đầu Hùng Vương, vùng bờ biển Bắc Bộ đang còn ở gần Hà Nội bây giờ.
Có thể kinh đô Văn Lang ở Việt Trì không xa bờ biển, là một thương cảng lớn. Có vẻ như hợp lí để dùng cho việc giải thích rằng các di vật của văn hoá Đông Sơn - tiêu biểu như Trống Đồng - đã theo thuyền biển tới vùng đảo Indo, Mã lai.

Phương Bắc sáp nhập, cai trị nước ta, đặt thủ phủ ở vùng Luy Lâu, Đại La Long Biên. Họ đã dùng chính cái âm của tên địa phương và viết lại thành chữ Nho Giao Chỉ (khác gì tiếng Việt chuyển Dak lak thành Đắc Lắc)

Hà Nội - Giao Chỉ trở thành trung tâm của toàn vùng, kể cả sau này, ở các thời kì độc lập, phục quốc.
Thế nên, khi phương Tây đến ta, họ đã phiên theo chữ Latin Kochi hay Kochinvà để phân biệt với thủ phủ Kochi của bang Kerala bên xứ Ấn thuộc Anh, họ thêm thành Kochinchine (xứ Kochi gần China)


Người Nam gọi vùng đất thấp ngập nước là Keo (hay Giao). Cách gọi này không phải là cố định cho chỉ 1 nơi.
Vào cuối thời Hùng Vương qua thời Bắc thuộc, biển lui đã làm vùng bờ biển kéo ra tới nửa Nam Định-Thái Bình. Vùng đất ngập nước gọi là Keo/Giao bấy giờ lui về vùng ngã ba sông Hồng & Ninh Cơ. Cái tên "Giao Thuỷ" của vùng này đã được ghi thành chữ trong các văn bản thời phong kiến.
Chính tại vùng đất mới Giao Thuỷ, một ngôi chùa lớn được Không Lộ cho xây dựng và phát triển Phật giáo, tên Nôm của nó là chùa Keo. Sau đó sông Hồng đổi dòng, gây lụt lội, chùa Keo phải di dời, một phần về phía hữu ngạn sông Hồng mà ngày nay chính là chùa Keo đất Vũ Thư Thái Bình, còn một phần di dời về phía tả ngạn thành chùa Keo Xuân Trường Nam Định (nhỏ hơn).

Biển tiếp tục lui và vùng đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục được mở rộng như ngày hôm nay. Cái tên Keo/giao lại được di dời cho tên gọi mới. Huyện Giao Thuỷ (mới) của tỉnh Nam Định thì nằm ngay cửa Ba Lạt sông Hồng, đây chính là vùng đất trũng thấp ngập nước, nơi có vườn quốc gia Xuân Thuỷ.
Những địa danh cũ Keo/Giao chỉ còn lưu lại trong một số vết tích cũ.

Chính vì Keo/Giao là một danh từ chung, giống như "sông/giang, kênh/kinh, giồng" nên nó được dùng cho nhiều vùng đất đã thay đổi theo thời gian. Trong nhiều trường hợp, nó được riêng hoá thành danh từ riêng trong các tổ hợp định danh (phải chuyển đổi để viết bằng chữ Nho) như Giao Chỉ, Giao Thuỷ,...
Bổ sung:
Bài trên là tổng hợp, dựa theo ý kiến của nhiều bài của nhiều nhà ngôn ngữ và văn hoá.


Vd về riêng hoá danh từ chung:
Giồng chỉ vùng đất vồng, nhô lên, cao hơn ở trên sông, trên vùng nước, tương tự cù lao. Nó được riêng hoá thành tên gọi như huyện Giồng Trôm (Bến Tre), Giồng Ông Tố (q2 tpHCM)

"Giang" có gốc từ "krông" nghĩa là sông. Krong đã chuyển hoá dần dần thành kông/công, sông (tiếng Nam Á), rồi kiang, và cuối cùng thành jiang (từ tiếng TQ), giang (từ Hán Việt). Chữ Nho "giang/jiang có bộ thuỷ chỉ ý và bộ công chỉ âm là bằng chứng khó mà phủ nhận là từ này gốc Nam Á.
Bây giờ ta thấy rất nhiều địa danh liên quan như Lạch Giang (cửa biển), Châu Giang, Vĩnh Giang (sông), Tiền Giang, Kiên Giang, An Giang (tỉnh),...