Kết quả 1 đến 10 của 10
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2

    Khoa thi thần đồng 1247 - Một cách lý giải !

    Đang nghĩ coi có nên viết cái này không. Cái này hay nhưng viết ra đem share thì hơi... tiếc. [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG] một là diễn đàn dạo này xuống cấp, anh tài lần lượt quy ẩn, đề tài mới hay thì chẳng có. Hai là việc làm ăn tháng này của bổn mỗ có dấu hiệu đi xuống [IMG]images/smilies/12.gif[/IMG] cảm thấy tâm hồn yếu đuối hơn mọi khi. Coi như share ra để xả stress. Biết đâu được vài câu khen chém gió mai lại hào hứng lao động tiếp [IMG]images/smilies/105.gif[/IMG]. Vào ....



    Bài viết này là một trong những cách dùng để lý giải hiện tượng khoa thi năm 1247.

    I. GIỚI THIỆU.

    - Khoa thi tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247) thời vua Trần Thái Tông - Khoa thi lừng danh trong sách sử nước Việt. Bởi lần đầu tiên khi đặt ra chính thức danh vị 3 người đỗ đầu Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa thì một hiện tượng kỳ lạ đã diễn ra. Nó khiến cho sau này ai nhắc đến khoa thi này cũng trầm trồ gọi đó là "khoa thi thần đồng" vì cả ba người đỗ đầu đều chưa quá 20 tuổi. Trong đó trạng nguyên trẻ nhất và cũng là trẻ nhất lịch sử khoa bảng VN là Nguyễn Hiền lúc đó mới 12 tuổi, Bảng Nhãn Lê Văn Hưu 18, Đặng Ma La 14 tuổi. Xin nói qua một chút về 3 người này:

    + Nguyễn Hiền: (chữ Hán: 阮賢, 1234 - 1255) đỗ trạng nguyên khi 12 tuổi. Ông là người làng Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường[1] (nay là xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Ông mồ côi cha từ nhỏ, mẹ con sống nhờ đất nhà chùa. Thủa bé học hành giỏi giang nghe gì hiểu nấy. Có gì không hiểu mới qua hỏi sư già trong chùa. Sau cũng nhờ người mến tài học cho tiền nên mới có thể lai kinh ứng thí chứ nhà nghèo không có tiền. Sở thích tương truyền : thả diều. (dân Nam Định không hổ danh đất có nhiều người tài, bổn nạp quen rất nhiều người giỏi là dân Nam Định, trong tâm tự thấy kính nể) – ta có đọc một vài tài liệu về ông, nói ông mất sớm, nhưng mội vài cái khác nói ông sống khá thọ (trên 80).

    + Lê Văn Hưu: (ông này thì trắc ai cũng biết rồi ) là người làng Thần Hậu (tục gọi Kẻ Rỵ), huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan, rồi Binh bộ Thượng thư, sau đó Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử Viện giám tu. Ông cũng là thầy học của Thượng tướng Trần Quang Khải. “Thà không chép sử chứ không chép sai” – có đứa nói đây là câu nói của LVH – không nhớ là ai. Đỗ Bảng Nhỡn năm 17, 18 tuổi gì đấy.

    + Đặng Ma La: Đặng Ma La sinh năm Giáp Ngọ (1234). Cha của ông là Đặng Nghiêm, làm quan nhà Lý. Mẹ của ông là Lý Thị Tiêu, thuộc hoàng thất nhà Lý. Nhà Trần áp chế và bắt tôn thất nhà Lý phải đổi họ, hai mẹ con Đặng Ma La phải chạy về quê lánh nạn tại làng Khúc Thuỷ, Chương Đức, Hà Đông. Mẹ ông phải đổi thành họ Đặng. Sau đó, Đặng Ma La được cử giữ chức Thẩm hình viện, rồi được bổ nhiệm làm tướng võ về lập doanh trại, tuyển binh, luyện võ, tại vùng Chúc Sơn Chương Đức, chuẩn bị đánh quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất năm 1258. Mất năm 1285. Tóm lại gia đình ông thuộc dòng trâm anh. Hai anh ông cũng đỗ thái học sinh.

    Hết phần copy wiki, mấy ông này nói qua thôi. Anh em trong này biết cả rồi.



    II. CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN


    Giờ là phần chém chuối. Để phần chém chuối ngon ăn ta bắt đầu từ…..đầu.
    Chúng ta đang nói về một kỳ thi. OK vậy chúng ta sẽ phải xem sét khía cạnh thường thấy của một kỳ thi.

    1. Đề thi.

    “Áp tử từ kê mẫu (du hồ)”
    Ý nghĩa dịch nôm “con vịt từ dã mẹ gà đi chơi hồ nước.”

    Nói qua một chút về vụ thi cử, thông thường các kỳ thi ngày xưa thường trải qua một số môn bắt buộc kiểu như Ám Tả, cổ thư, kinh nghĩa(kiểu học thuộc, dịch giải nghĩa biện luận hay gì gì đó về một câu hay một từ điển tích điển cố …….. trong các tác phẩm kinh điển của nho học, có thể hỏi bất cứ chỗ nào sách nào, nên người thi phải học thuộc tất (đây là phần thi cần đến phao nhiều nhất )). Kỳ sau khó hơn; Văn từ, thi phú, nghe là biết rồi (thi làm thơ văn ca phú theo đề tài), Tiếp đến là thi: Chiếu, chế, biểu (tức là thi viết form văn bản hành chính sự nghiệp bây giờ - đại khái thế). Thỉnh thoảng có mấy ông làm cải cách giáo dục có thể thi thêm môn… Toán (đầu trò là một người họ Hồ tên Quý Ly). Và một số môn linh tinh có thể có, anh em dỗi thì tự tìm.

    Và phần quan trọng nhất – thường phần này dùng để lọc ra ai là Tam Khôi. Văn Sách (hay một số tên khác ae tự search google ). Đây là kiểu thì thường là cuối cùng của kỳ thi Đình (thường đề do vua ra).

    Đại khái thế này, thường do nhà vua hoặc quan chủ khảo ra rồi vua phê, tóm lại người duyệt cuối cùng luôn là vua. Và dĩ nhiên người chọn ra Tam Khôi cũng thường là vua.

    Kiểu thi này thường như sau, đề sẽ ra một vấn đề mang tính thời sự ,có thể nói đây là bài thi mang tính thực tế cực cao, thể hiện sự hiểu biết thế sự mưu lược của người đi thi (– các cụ ta không chỉ biết dung sách giáo khoa để tuyển nhân tài đâu nhé ). Vấn đề được hỏi có thể là nội ngoại trị, chống giặc ngoại xâm, xây dựng nhà nước, phát triển nông nghiệp….. Người thi phải thể hiện sự hiểu biết, ý chí và đưa ra được những quyết sách về vấn đề thời cuộc. Qua đó sẽ định đoạt danh phận người đỗ đầu. Ok nói qua vậy.

    2. Người ra đề.

    Thái Tông Trần Cảnh. Làm vua được 21 năm. Trải qua nhiều biến cố, đã bước vào tuổi gần 3x. Vợ con đề huề. Thực quyền, quân quyền vẫn do Thủ Độ nắm giữ. Có thể người ra đề là chủ khảo đưa vua duyệt, nhưng theo ta trường hợp này do vua ra đề. Tý giải thích.

    3. Người đỗ đầu.

    Cả ba đều chưa quá 20, và nếu không nhầm thì đều lần đầu đi thi, lần đầu xa gia đình, một thân lai kinh ứng thi. Đặc biệt Nguyễn Hiền hay Đặng Ma La cha đều đã mất chỉ có một mẹ. Có thể nói đây là lần đầu tiên xa mẹ tự mình vào đời kiếm công danh sự nghiệp, tự đi ra chốn giang hồ vùng vẫy (có ai liên tưởng gì tới đề thi không).

    Như chúng ta đã biết đề vào được vòng thi đình cuối cùng. Người đỗ phải vượt qua các vòng thi ở địa phương vô cùng gắt gao thường là thi Hương, Hội, … thời Trần ta gọi là kỳ thi Thái Học Sinh (hình như có đại tiểu to nhỏ mấy kỳ thi đấy, xin lỗi ta nhớ không rõ anh em tự search).

    Có thể nói không cần là Bãng nhãn hay Trạng Nguyên với tuổi đời như vậy mà bước vào được kỳ thi cuối thì đã có thể gọi là tuyệt đỉnh nhân tài. Mỗi người theo ta cũng loại kha khá những đối thủ kỳ cựu học vấn đầy mình.

    4. Trích đoạn bài thi Trạng Nguyên tương truyền của Nguyễn Hiền.

    Ta copy trên mạng về, thấy cũng gần giống na ná bản ta được đọc lúc nhỏ, nếu bác Tĩnh Hay bác Ẩn dỗi dãi mong dịch giúp toàn văn để mọi người thưởng thức. Hiện tại chỉ còn sót bài văn này, không thấy lưu bài của Bảng Nhãn hay Thám hoa nên đành có đâu dùng đến đó.
    “ÁP TỬ TỪ KÊ MẪU DU HỒ PHÚ”
    Nội dung bài "vịt con giã mẹ gà..." Mở đầu bài thi, thông qua việc mô tả cảnh vật, Nguyễn Hiền cho biết mùa xuân đã trôi qua, vịt con đến tuổi khôn lớn, không còn phụ thuộc hẳn vào mẹ gà nữa: ...” Én không hót trong nhà Chim không kêu nơi rừng Dòng xanh sóng biếc Nước ánh sáng hồng Vịt con lông mượt dỡn nước Dáng vẻ như chim âu đang đứng Trời phú cùng họ vũ với gà Vịt con từ giã mẹ dạo chơi hồ” Tiếp theo tác giả phác họa mối quan hệ giữa vịt con và mẹ gà. “ Trứng nguyên là vịt sinh ra Ổ vẫn nhờ gà ấp đỡ Đủ ba tuần thì nứt vỏ Thân thể hoàn hảo như muôn loài” Theo lễ giáo phong kiến thì con bắt buộc phải luôn ở bên mẹ, không được rong chơi xa. Nhưng để lý giải chủ đề nói trên, Nguyễn Hiền đã lập luận trong trường hợp này vịt con có thể từ giã mẹ đi chơi, bởi lẽ mẹ gà là khác giống, nên có thể châm chước. Vả lại có rời khỏi mẹ thì vịt mới hòa nhập vào đàn và mới trưởng thành được. Đó cũng là nhu cầu tất yếu do trời đất sinh ra đối với vịt con. Tác giả đã sử dụng văn bút tài hoa của mình để mô tả nỗi lòng vịt con qua cảnh vui chơi hết sức vui vẻ, tự do và sung sướng. Chẳng hạn: “... Có lúc vịt bơi dập dềnh trên sông Bến xa sóng lặng Đậu nơi thảm cỏ, mắt lim dim dưới ánh sáng mặt trời Ngủ nơi gió mát trời che Mặc đời không hề lo lắng!” Hoặc: “ Có lúc vịt làm rối tung đám cỏ xanh Xua tan tác những cụm bèo Trốn thuyền cá mà làm bạn với cò Khi chơi ở bãi âu, khi tắm ở vũng hạc Gần nhau ríu rít, líu lo bên sông Lúc bay lúc dừng như đôi chim câu Từng cặp từng đôi tựa anh em nhạn” Nguyễn Hiền chốt lại ý vịt con từ giã mẹ gà như thế là hợp lý bởi: “...Để được tự do bay nhảy theo lẽ tự nhiên Mẹ vịt con gà là không thuận lý Thì làm sao cắt đứt được nỗi nhớ của giống chim ưng xưa?” Điều đáng nói là tuy tuổi còn nhỏ, song Nguyễn Hiền đã nhận thức được chủ ý của đề ra, muốn hỏi về chữ hiếu của con đối với cha mẹ. Vì thế trong phần kết tác giả đã lập luận: “...Người ta thờ cha mẹ bất kính thì sinh ra hỗn loạn Không lấy kính làm phụng dưỡng cha mẹ thì khác gì loài cầm thú. Nếu như điều kính mà con cái không làm được Thì lấy gì để phân biệt chúng với loài gà vịt. Huống hồ đạo của người con phải thờ cha mẹ Cha mẹ còn thì không được đi chơi xa Nếu có đi phải phũng dưỡng hết lòng Như thế mới có thể bàn luận vịt con từ giã mẹ gà vậy!”

    (Báo Mới)


    III. CHÍNH THỨC VÀO PHẦN BỔ DƯA.

    Có một vấn đề về hình thức thi. Như đã nói bài thi xếp trạng nguyên thường thể loại quan trọng nhất chính là Văn Sách, bài viết nói về một vấn đề thời sự thực tế cấp thiết để qua đó thấy được hiểu biết thực tế và mưu lược ý chí của Trạng. nhưng bài trên lại có đề tài rất lạ và bài thi theo một số tài liệu thì được làm theo thể phú (kiểu như văn miêu tả). Đây là điều mâu thuẫn. Có thể đây là sự tinh gọn từ yêu cầu vừa kiểm tra văn tài và cả kiến thức cùng một lúc. Hoặc do Nguyễn Hiền tự làm cho bài văn thêm hấp dẫn. (đọc bài văn trên theo cách hành văn và miêu tả có thể thấy chất tả cảnh, chất thi phú là có thật chứ không chỉ là một bài văn sách luận bàn khô khan về chính trị).

    Phía trên nếu có đọc những gì ta viết. Thì mọi người sẽ nhận thấy ngay, đề thi này vô cùng hợp với hoàn cảnh thực tế của cả 3 người đỗ đầu. nhưng người lần đầu tiên xa gia đình (có hai người chính xác là lần đầu xa mẹ) một mình vào đời tìm kiếm công dang sự nghiệp. Vậy số một ta có lý giải , đây chính là thuận lợi đầu tiên của người trẻ tuổi khi tham gia kỳ thi này.

    Tiếp đến ta nói về đề thi. “Áp tử từ kê mẫu (du hồ)”, như trên ta đã nói người ra đề nhiều khả năng là Trần Cảnh – Trần Thái Tông. Tại sao? Không chỉ vì thường là như vậy. Và như ta đã đặt ra một vấn đề, đề bài này dùng để tuyển ra tam khôi, chẳng ai lại ngớ ngẳn đến mức dùng một phần thi đáng ra t hi văn sách nói về vấn đề chính sự, hệ trọng, cần thiết, thực tế, thay vào đó là một bài thi tả cảnh, con từ mẹ đi đi chơi. Hãy nhớ các cụ ta dùng thực tế để tuyển nhân tài, thi phú, sách vở chỉ là tài để làm việc vặt. Đây là dấu hỏi cho kỳ thi này. Đề thi này không bình thường cả cách ra đề, người ra đề, người đỗ cũng đều dị thường.

    Việc đầu tiên là đề thi ”áp tử từ kê mẫu du hồ”, ý của đề thi này là muốn người ta bàn luận về vấn đề gì. Con từ giã mẹ đi chơi, con từ giã mẹ lên đường xông pha lập công danh sự nghiệp, có thể Trần Cảnh muốn các sĩ tử thể hiện ý chí muốn thoát ly sự nương tựa vào gia đình để xông pha lập công danh với triều đình đất nước. Không đúng, nếu vậy đề thi này sẽ khó phân định thực tài. Như trên đã nói, đề này rất hợp với tâm lý người trẻ muốn thoát ly gia đình muốn tự do lập công danh ngoài đời. Vậy các sĩ tử già hơn đã có gia đình sống nhờ quan hệ thế thuộc gia đình (gia đình học vấn gia giáo dày dặn học thức chẳng hạn). Đề thi này không chỉ có ý đó, nó còn ý khác.

    Điểm nghi vấn chí mạng trong đề thi này chính là ở vấn đề con vịt và mẹ gà . Vịt tuy không phải con đẻ sinh ra nhưng gà mẹ có công dưỡng dục, công lao đó to như trời biển, không gì sánh kịp, rõ ràng đây là điểm thống nhất giữa ý người ra đề và người viết. Vấn đề là nếu chỉ nói về việc trẻ trâu từ mẹ lần đầu vào đời thì sao lại phải Áp tử và Kê mẫu, điều này không cần thiết, vì nếu vậy chỉ cần “áp tử từ mẫu” hay “hiếu tử từ mẫu” là được. Tại sao, tại sao lại là Áp tử, và Kê mẫu.

    Như trên đã nói bài thi cuối cùng để tìm ra người đỗ Tam Khôi luôn là bài thi thực tế nhất, thời sự nhất, luôn hỏi về cái mà người ra đề - vua đang chăn chở. Sao lại là một bài văn tả cảnh – quá vô lý.

    Nói luôn cho vuông. Bài thi này không phải là bài phú ta cảnh. Đây chỉ là một cái vỏ để che dấu vấn đề chính trị mà Trần Cảnh – Trần Thái Tông muốn hỏi sĩ tử thiên hạ và qua đó tuyển nhân tài. Vâng. Xin khẳng định đây là một bài văn sách, một bài luận chính trị ngụy trang dưới hình thức đề và bài thi tả cảnh.

    Mẹ gà và con vịt. Mối quan hệ này ám chỉ một mối quan hệ mang tính chất thân quyến và chính trị, một mối quan hệ cực kỳ nổi tiếng thời đại đó giữa một người dù không có công sinh thành nhưng đã có công dưỡng dục và công lớn nhất chinh là người đã đưa người cháu không phải con ruột lên ngôi vua một cách đường hoàng, không những vậy mà còn dốc sức bảo vệ vương quyền bằng nhiều thủ đoạn tàn ác.




    Mẹ gà và con vịt. = Trần Thủ Độ và Trần Cảnh.


    Vậy vấn đề thực sự bài thi muốn hỏi là gì ? tất nhiên là không phải việc vua muốn đi chơi hồ. Hồ nước là nơi sinh sống thiên tính của vịt, vịt phải về với song nước đó là thiên tính dù muốn hay không. Cũng giống như vua phải là người cầm quyền tối thượng quan quyền không bao giờ được vượt quá quân quyền. Trần Cảnh đang muồn nói tới vấn đề cầm quyền. Đây chính là điều Nhà vua muốn hỏi nhân sỹ tài năng trức điện rồng, những người ưu tú nhất, và có thể, đánh tiếng tới ông chú Thủ ĐỘ qua mấy bài văn. Thủ Độ có công lớn như cha mẹ nhưng quyền lực át vua. Vua như bù nhìn, việc gì chú Độ đã quyết thì vua cũng tắt điện. Không, Trần Cảnh muốn làm vua thực sự, vơi uy quyền tuyệt đối, muốn tự mình đảm đương chính sự muốn độc lập làm nên võ công văn trị đệ nhất.

    Đề thi và kỳ thi này chính là minh chứng hung hồn nhất cho việc Trần Cảnh vùng vẫy muốn thoát khỏi sự kìm kẹp của ông chú Trần Thủ Độ. Nếu đọc trong chính sử, đây không phải lần đầu tiên Thái Tông thể hiện điều này. Đó là khi có người cáo về việc THủ Độ lộng quyền, vua cực khôn khi đem người đó ra hỏi chú Độ (đánh tiếng khéo, và thấy rõ là ông cháu sợ ông chú mất lòng đến thế nào), và anh Độ còn khôn hơn khi đem tiền thưởng cho người đó. Đó là khi Trần Cảnh ban chứ lớn cho ông anh Trần Liễu, vì quý và cũng vì muốn nhờ ông anh giỏi giang áp chế bớt ông chú hà khắc (kết quả thế nào thì mọi người biết rồi), và kể cả khi vua xin cho người em ruột của Thủ Độ chức cao để hòng phân tán bớt quyền của Độ thì cũng đã bị Độ lịch sự từ chối. Rồi chán nản đến mức vào rừng chúc xin tu hành cuối cùng cũng bị ông chú sách ngược lôi ra. Đáng thương ông vua bị quyền thần lấn áp.!

    Đọc bài văn tả cảnh đầy chất hồn nhiên của Nguyễn Hiền miêu tả cảnh vịt con trong song nước, và câu chốt “Cha mẹ còn thì không được đi chơi xa Nếu có đi phải phụng dưỡng hết lòng Như thế mới có thể bàn luận vịt con từ giã mẹ gà vậy!”. Rõ ràng chúng ta đã thấy rõ ý tứ cái nhà vua muốn nghe gì. “Chú à, chú già rồi, việc chiều chính cứ để cháu lo liệu, cháu là vua cơ mà, chú phải giao quyền cho cháu chứ, cháu sẽ dốc lòng phụng dưỡng chí hiều với chú đến hết đời.”

    Rõ ràng Trạng của chúng ta đã viết hết ra với không chỉ lý lẽ học thuật và còn cả tầm hồn trong sáng của đứa trẻ lần đầu xa mẹ. Mọi thứ đều mới mẻ đẹp đẽ. Điều mà vua muốn được nghe muốn nghe muốn được nho sĩ thiên hạ ủng hộ, muốn nhắn nhủ tới chú Độ lại được viết ra chân thật, trong sáng như vậy. Thật khó lòng không xúc động mà cho điểm cao nhất, văn chương ngàn thuở vô bằng cứ, đã vào kỳ thi văn, văn có hay nhưng không hợp ý kẻ chấm thì cũng vứt. Bài văn có thể không xuất sắc nhất nhưng điểm chúng tâm tư và chân thành hồn nhiên đáng yêu vậy….chà. Có lẽ chỉ người hồn nhiên vô tư không hiểu đời không hiểu gì về chính sự hiểm độc như Trạng, Bảng và Thám nhà ta mới viết được như vậy.

    Các sĩ tử khác, già đời hơn, từng trải hơn ta tin họ cũng viết được những áng văn hay với ý tứ trên. Nhưng những người đó quá hiểu bài thi này muốn nói gì có khi còn hiểu hơn người đỗ đầu trẻ châu. Vấn đề đặt ra ở đây, nếu mọi người vào phòng thi chọn 2 phương án A và B, A được lòng người chấm thi, đỗ cao, nhưng mất lòng kẻ có thực quyền >> công danh cái thực tế nhất bị đe dọa. Phương Án B lấy long kẻ thực quyền nhưng đỗ đạt không cao và rằng kẻ chấm quyền tuy không bằng đồng chí X kia nhưng cũng quyền to VL. Sẽ viết sao, một đánh cược ngả hẳn một phe, hai viết chung chung cố lấy lòng cả 2 bên……….. tùy mỗi người chọn.

    Vậy là nói gần xong rồi, ae có thể hiểu đại khái lý do lý giải về vụ 1247. Có cả tài và may mắn. như đã nói đấy, vào được vòng cuối với tuổi đó tài học đã hơn người nhiều rồi.

    Đang tưởng tượng ra cảnh nhà vua nghĩ sao khi gặp 3 người đỗ đầu, những người tài năng dám nói thẳng nói thật điều mình muốn nghe, hợp ý mình nhất, không sợ quyền lực của chú Độ. Là những anh tài có thể dùng tạo vây cánh cho bản thân sau này trước ông chú. Rất nhiều kỳ vọng, tràn chế hi vọng (kiểu như “nhân tài giúp ta trị quốc đây rồi”)….. cuối cùng lại là 3 đứa trẻ trâu không hiểu mùi đời….[IMG]images/smilies/24.gif[/IMG] cười ra nước mắt đấy



    Lần đầu tiên có lý luận tử tế và ảnh éo, đầy đủ. Con người ta đang dần tốt lên. [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG] mấy chỗ ta nói không chích chéo sách vở các anh em tự search nhé. [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Có lẽ đề thi mang tính thiết thực và thiên về lý luận hơn chương hồi nên cơ hội cho Nguyễn Hiền và các thí sinh nhỏ tuổi cao. Gặp kiểu thi cử thời Nguyễn, phạm húy với học cho hết chữ cũng bạc cả đầu, rụng cả tóc còn đâu.
    Thằng bạn mình là cháu 35 đời của Nguyễn Hiền, ông bố nó từng làm xếp tổng Dầu khí. Vậy cụ Hiền này cũng lấy vợ sớm thì phải.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Có một chi tiết trong Wiki sai .Thực chất Nguyễn Hiền và Đặng Ma La đều sinh năm 1234 (cái này wiki đúng) cùng 13 tuổi , Đúng có lẽ thời kỳ này nhà Trần đang ở thể chế NHÂN TRỊ chưa có bộ LUẬT nên việc thi cử còn qua loa dễ dãi , việc Nguyễn Hiền đỗ Trạng không được bổ làm quan ngay giống như Lê Văn Hưu và Đặng Ma La mà phải về quê học ''lễ nghĩa''' chắc đây cũng là tính hài ước trong khoa cử nhà Trần.
    Tiên học lễ , hậu học văn chắc câu này ai cũng biết.
    Ta hãy xét qua 6 vị trạng Nguyên cuối cùng của Đại Việt:
    1- Trịnh Tuệ đỗ năm 1736 , 35 tuổi- Trạng Nguyên cuối cùng của Việt Nam - Hậu duệ của chúa Trịnh - Hậu duệ của Đặng Ma La (đàng ngoại) .
    2-Nguyễn Đăng Đạo (1650-1718), Bắc Ninh đỗ năm 1683- 33 tuổi thời Lê Hy Tông
    3-Lưu Danh Công đỗ năm 1670 ,27 tuổi.
    4-Đặng Công Chất (1621-1683) Hà Nội đỗ năm 1661 -40 tuổi ,niên hiệu Lê Thần Tông- Hậu duệ của Đặng Ma La.
    5-Nguyễn Quốc Trinh (1624-1674) Hà Nội đỗ năm 1659-35 tuổi thời Lê Thần Tông
    6-Nguyễn Xuân Chính đỗ năm 1637- 51 tuổi.
    Rõ ràng các Trạng Nguyên thời sau này có tuổi trung bình trên 35 tuổi.
    Ngay cả thần đồng Lê Quý Đôn đỗ thi Hương năm 1743-17 tuổi, ông thi rớt thi Hội mấy lần sau đó đỗ Hội Nguyên vào năm 1752 và năm sau 1753-27 tuổi ,ông đỗ đầu thi Đình (đình Nguyên) ,năm đó không lấy Trạng Nguyên nên ông chỉ đậu Bảng Nhãn, Thời sau này thì anh muốn đổ TIẾN SỸ phải có ít nhất trên 20 năm dùi mài kinh sử ( không cần biết anh là thần thánh phương nào)

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Ngoài đề tí, ai biết đề thi Văn Sách nào khác ngoài bộ đề mang tính cá nhân của Trần Cảnh không?? ví dụ các đề tài Đối nội, ngoại; chống xâm lược hay nông nghiệp ???

    Xem các cao nhân LSVn giải thế nào nữa [IMG]images/smilies/10.gif[/IMG]

  5. #5
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    66
    Nghe thớt Pháo chém cũng hay hay nhở ! Hì hì [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

  6. #6
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Trích dẫn Gửi bởi taitrumday
    Ngoài đề tí, ai biết đề thi Văn Sách nào khác ngoài bộ đề mang tính cá nhân của Trần Cảnh không?? ví dụ các đề tài Đối nội, ngoại; chống xâm lược hay nông nghiệp ???

    Xem các cao nhân LSVn giải thế nào nữa [IMG]images/smilies/10.gif[/IMG]
    Bài thi văn sách mà bạn có thể tham khảo, là bài thi vua Lê Thái Tổ lúc phát binh ra Bắc, bao vây Đông Quan, ông tổ chức thi bài thi là ''Hiểu dụ thành Đông Quan''. Lại có lệnh lại dụ những người có tài văn chương mà chưa được nhận chức, nếu ai viết thư dụ được người thành Đông Quan, khiến họ mở cửa thành ra hàng và giảng hòa về nước, thì sẽ được thăng chức vượt cấp.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Híc, toàn chuối với dưa cả đấy. Sao không ai phản pháo cả nhỉ. [IMG]images/smilies/22.gif[/IMG]

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Ta chỉ thắc mắc là 12 tuổi thì học thế quái nào được cái đống chữ Hán đó mà đòi viết thi với phú [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG], ta nhớ đến bọn học Đại học bên Tàu hiện nay nó còn chưa biết hết mặt chữ Hán mà [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG]

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    0
    Trích dẫn Gửi bởi Sephiroth
    Ta chỉ thắc mắc là 12 tuổi thì học thế quái nào được cái đống chữ Hán đó mà đòi viết thi với phú [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG], ta nhớ đến bọn học Đại học bên Tàu hiện nay nó còn chưa biết hết mặt chữ Hán mà [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG]
    trẻ con học 3 năm chữ Hán có thể gọi là biết đọc biết viết. Đây là thần đồng cơ mà..

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Thấy thời Trần thi cử không thuần về Nho giáo và hình như còn có cả các môn khác như tính toán hay kiến thức về tam giáo nữa nên có lẽ cũng ko quá khắt khe và mang tính giáo điều như thời lê sơ về sau [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]
    Mình đọc tư liệu cũng thấy bên Tàu đến thời Đường, các khoa thi ko chỉ thuần về Nho giáo, thơ phú hay văn bát cổ mà còn có cả tính toán nữa, ko biết từ thời nào thi cử của Tàu mang tính giáo điều, chỉ có thơ phú và lịch sử nho giáo nhỉ anh em [IMG]images/smilies/105.gif[/IMG]

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •