Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0

    Tất tần tật các kiểu xưng hô của người Việt xưa

    Việc sưu tầm các kiểu xưng hô và chuẩn hóa nó để dùng cho sáng tác văn học, điện ảnh đang là vấn đề cần thiết cho phát triển văn hóa. Việc này không khó, nhưng cần bỏ thời gian tra điển tích, sách vở. Muốn đầy đủ và có hệ thống, không thiếu sót thì phải tra nhiều, trong nhiều giai đoạn khác nhau. Nay tạo chủ đề này để thần dân Đại Việt cùng nhau làm.

    Để mờ màn và làm mẫu trước về phương pháp nghiên cứu, lão nạp xin trích dẫn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, giai đoạn nhà Trần. Từ đó mà lọc ra những kiểu xưng hô. Lưu ý là việc xưng hô của người Việt xưa không chỉ dựa vào vai vế, địa vị mà còn phụ thuộc ngữ cảnh, cảm xúc. Ví như vợ chồng khi bình thường vợ xưng là Thiếp, gọi chồng là Chàng. Đến khi cãi lộn xưng bằng Bà, gọi chồng là Mày [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG] Ấy là việc rất thường. Mọi người sẽ được thấy.

    Đoạn đối thoại giữa Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng :

    Lại một hôm, Chiêu Hoàng lại lấy khăn trầu ném cho Cảnh, Cảnh lạy rồi nói: "Bệ hạ có tha tội cho thần không? Thần xin vâng mệnh".

    Chiêu Hoàng cười và nói: "Tha tội cho ngươi. Nay ngươi đã biết nói khôn đó".



    Chiếu nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh :

    "Từ xưa nước Nam Việt ta đã có đế vương trị thiên hạ. Duy triều Lý ta vâng chịu mệnh trời, có cả bốn biển, các tiên thánh truyền nối hơn hai trăm năm, chỉ vì thượng hoàng có bệnh, không người nối dõi, thế nước nghiêng nguy, sai trẫm nhận minh chiếu, cố gượng lên ngôi, từ xưa đến giờ chưa từng có việc ấy. Khốn nổi trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, làm sao mà giữ nổi ngôi báu nặng nề ? Trẫm dậy sớm thức khuya, chỉ sợ không cáng đáng nổi, vẫn nghĩ tìm người hiền lương quân tử để cùng giúp chính trị, đêm ngày khẩn khoản đến thế là cùng cực rồi, Kinh thi có nói "Quân tử tìm bạn, tìm mãi không được, thức ngủ không nguôi, lâu thay lâu thay". Nay trẫm suy đi tính lại một mình, duy có Trần Cảnh là người văn chất đủ vẻ, thực thể cách quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng, có tư chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng không hơn được. Sớm hôm nghĩ chín từ lâu nghiệm xem nên nhường ngôi báu, để thỏa lòng trời, cho xứng lòng trẫm, mong đồng lòng hết sức, cùng giúp vận nước, hưởng phúc thái bình. Vậy bố cáo thiên hạ để mọi người điều biết"

    Qua những đoạn này rút ra được kết luận :
    - Vua xưng là Trẫm, gọi bề tôi ( lúc thường nhật, không trang trọng ) là Ngươi.
    - Bề tôi gọi vua là Bệ Hạ, xưng là Thần
    - Gọi cái gì là của chung mọi người thì dùng công thức : Danh từ + "ta"
    - Có thể gộm chung quan lại và dân chúng vào một vế, gọi là "Mọi Người"


    Trích lời Trần Thủ Độ bàn với các quan trong triều :

    "Hiện nay giặc cướp đều nổi, họa loạn ngày tăng. Đoàn Thượng giữ mạn đông, Nguyễn Nộn giữ mạn bắc, các châu Quảng Oai, Đại Viễn cũng chưa dẹp yên. Nhà Lý suy yếu, thế nước nghiêng nguy, nữ chúa Chiêu Hoàng không gánh vác nổi, mới uỷ thác cho nhị lang [Chàng Hai]. Nhưng Nhị lang chưa am hiểu việc nước, chính sự nhiều chỗ thiếu sót, vận nước mới mở, lòng dân chưa phục, mối họa không phải là nhỏ. Ta tuy là chú nhưng không biết chữ nghĩa gì, còn phải rong ruổi đông tây để chống giặc cướp, không gì bằng mời thánh phụ làm thượng hoàng tạm coi việc nước, một hai năm sau thiên hạ nhất thống, lại giao quyền chính cho Nhị lang".


    Kết luận :
    - Khi vào triều quan lớn xưng Ta với đồng liêu
    - Thủ Độ gọi Trần Thái Tông là Nhị Lang ( hoặc Chú Hai ) khi mới lên ngôi
    - Cha của vua mà chưa được phong Thượng Hoàng thì gọi là Thánh Phụ

    Đoạn đối thoại giữa Trần Thủ Độ và Lý Huệ Tông ( sau khi đã rời ngôi vua ) :

    Có lần Thủ Độ qua trước cửa chùa, thấy Huệ Tông ngồi xổm nhổ cỏ, Thủ Độ nói: "Nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ sâu".
    Huệ Tông đứng dậy, phủi tay nói: "Điều ngươi nói, ta hiểu rồi".
    Đến nay, sai người bày biện hương hoa đến bảo [Huệ Tông]: "Thượng phụ sai thần đến mời"..
    Thượng hoàng nhà Lý nói: "Ta tụng kinh xong sẽ tự tử".
    Nói rồi vào buồng ngủ khấn rằng: "Thiên hạ nhà ta đã vào tay ngươi, ngươi lại còn giết ta, ngày
    nay ta chết, đến khi thác con cháu ngươi cũng sẽ bị như thế".


    Kết luận :
    - Thượng hoàng xưng là Ta, gọi quan lại và những người khác là Ngươi
    - Trần Thủ Độ bấy giờ được gọi là Thượng Phụ
    - Người hầu cận ( có thể là quân lính hay nô tỳ ) xưng với Thượng hoàng là Thần


    Đoạn Thượng hoàng Trần Thừa nhận con rơi :

    Xưa Thượng hoàng còn hàn vi, lấy người con gái thôn Bà Liệt (thuộc huyện Tây Chân). Người đó có mang thì bị ( Thượng hoàng ) ruồng bỏ. Đến khi Bà Liệt ra đời, Thượng hoàng không nhận con. Lớn lên Bà Liệt khôi ngô, giỏi võ nghệ, xin sung vào đội đánh vật. Một hôm, Bà Liệt đánh cầu với người trong đội, người kia vật ngã Bà Liệt, bóp cổ Liệt đến suýt tắt thở. Thượng hoàng thét lên : " Con ta đấy ". Người ấy sợ hãi lạy tạ.

    Kết luận :
    - Thượng hoàng xưng Ta với người bình dân


    Cả một đoạn nhiều câu đối thoại giữa vua Trần Thái Tông với Trần Thủ Độ :

    Bấy giờ Chiêu Thánh không có con mà Thuận Thiên đã có mang Quốc Khang 3 tháng. Trần Thủ Độ và công chúa Thiên Cực bàn kính với vua là nên mạo nhận lấy để làm chổ dựa về sau, cho nên có lệnh ấy. Vì thế, Liễu họp quân ra sông Cái làm loạn.

    Vua trong lòng áy náy, ban đêm, ra khỏi kinh thành đến chỗ quốc sư Phù Vân (quốc sư là bạn cũ của Thái Tông) trên núi Yên Tử rồi ở lại đó.

    Hôm sau, Thủ Độ dẫn các quan đến mời vua trở về kinh sư. Vua nói: "Vì trẫm non trẻ, chưa cáng đáng nổi sứ mạng nặng nề, phụ hoàng lại vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, nên không dám giữ ngôi vua mà làm nhục xã tắc".

    Thủ Độ cố nài xin nhiều lần vẫn chưa được vua nghe, mới bảo mọi người rằng:
    "Xa giá ở đâu tức là triều đình ở đó".

    Thế rồi [Thủ Độ] cắm nêu trong núi, chỗ này là điện Thiên An, chỗ kia là các Đoan Minh, sai người xây dựng. Quốc sư nghe thấy thế bèn, tâu rằng:
    "Bệ hạ nên gấp quay xa giá trở về, chớ để làm hại núi rừng của đệ tử".

    Vua bèn trở về kinh đô. Được hai tuần, Liễu tự lượng thế cô, khó lòng đối lâp được, ngầm đi thuyền độc mộc giả làm người đánh cá, đến chỗ vua xin hàng. Lúc ấy vua đang ở trong thuyền, vội vàng bảo Thủ Độ :
    "Phụng Càn Vương (Phụng Càn là tên hiệu cũ của Liễu hồi còn nhà Lý) đến hàng đấy!" rồi lấy thân mình che đỡ cho Liễu. Thủ Độ tức lắm, ném gương xuống sông nói:
    "Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào?".
    Vua nói giải hòa, rồi bảo Thủ Độ rút quân về.


    Kết luận :
    - Vua xưng là Trẫm, gọi cha mình ( Trần Thừa, đã mất ) là Phụ hoàng ( chứ không phải tiên đế như bên Tàu nhé )
    - Quốc sư ( đại diện cho tăng lữ ) gọi vua là Bệ Hạ, xưng là Đệ Tử ( khác với cách xưng của quan lại trong triều )
    - Có thể dùng Tước của một người để thay thế cho danh xưng người đó
    - Thủ Độ ( đại diện ) cho họ hàng vua. Đang lúc nóng giận xưng là Ta, gọi anh em vua là "anh em các người".

    * Lưu ý : trong bản sách dịch Cương Mục triều Nguyễn ghi lời Thủ Độ là : "Tao thật là con chó săn, biết đâu anh em mày hòa thuận với nhau hay trái ý nhau". Trong bản này Thủ Độ xưng Tao, gọi anh em vua là Mày [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

    ....

    Làm vài đoạn để làm mẫu thôi. Anh em có thời gian thì giúp một tay nhé !

  2. #2
    Ngày tham gia
    May 2016
    Bài viết
    18

    Quốc sư ( đại diện cho tăng lữ ) gọi vua là Bệ Hạ, xưng là Đệ Tử ( khác với cách xưng của quan lại trong triều )
    quốc sư ở đâu chả thế, ý là quân của phật chứ không phải quân của vua

    Có thể dùng Tước của một người để thay thế cho danh xưng người đó
    không phải có thể mà là phải gọi bằng tước. Hiện đại thì cũng có kiểu: thưa giáo sư, thưa tiến sĩ, thưa nhà báo

    Thủ Độ ( đại diện ) cho họ hàng vua. Đang lúc nóng giận xưng là Ta, gọi anh em vua là "anh em các người"
    Thủ Độ to nhất, sợ gì ai

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •