Trang 1 của 7 123 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 62
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4

    Tại sao không vạch trần tội cầu viện nhà Minh của Lê Trang Tông,Nguyễn Kim, Trịnh Duy Liêu?

    Sinh viên tranh luận công trạng của vương triều Mạc
    http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-du...c-3376800.html

    Theo tôi nếu trách Mạc Đăng Dung cắt đất cho nhà Minh thì lịch sử sau này hãy vạch tội Lê Trang Tông,Nguyễn Kim, Trịnh Duy Liêu về việc cầu viện nhà Minh.

    Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê, lập ra nhà Mạc. Năm 1533, Nguyễn Kim lập Lê Trang Tông lên ngôi, tái lập nhà Lê. Lê Trang Tông sai Trịnh Duy Liêu vượt biển sang Trung Quốc xin cầu viện nhà Minh đánh nhà Mạc. Chúa Bầu Vũ Văn Uyên ở Tuyên Quang cũng sai người sang tố cáo việc nhà Mạc cướp ngôi.

    Sau một thời gian bàn bạc và trù tính, năm 1537, Minh Thế Tông giao quân cho Mao Bá Ôn chuẩn bị tiến xuống phía nam.

    Nhà Mạc ở vào tình thế "lưỡng đầu thọ địch": nhà Minh uy hiếp ở phía bắc, nhà Hậu Lê uy hiếp ở phía nam.


    https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%B..._nh.C3.A0_Minh

    Tôi đề nghị nhà nước sau này trong SGK nếu nói Mạc Đăng Dung cắt đất cho nhà Minh thì việc đầu tiên phải ghi tội cầu viện nhà Minh của 3 người này: Lê Trang Tông,Trịnh Duy Liêu và Nguyễn Kim.

    PS:
    Thời nay cần phải cho hậu thế biết những sự thật trong lịch sử từ nhiều phía nhất là sử Trung Quốc để biết nhiều khía cạnh.
    Ví dụ:
    Nhưng chính sử nhà Minh cũng ghi nhận rằng Mạc Đăng Dung đã dâng những tên đất không có thực, hoặc là đất vốn có của họ rồi chứ không phải là đất Đại Việt cắt sang. Như vậy, trên thực tế là trả lại những phần đất khống ấy mà thôi. "Từ năm 1990, GS Trần Quốc Vượng qua nghiên cứu đã kết luận rằng sự thần phục của nhà Mạc khi ấy là thần phục giả vờ để có được sự độc lập thực sự cho đất nước",

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    5
    Vấn đề là cuối cùng thì nhà Minh đã không đưa quân sang, nhờ tài ngoại giao của nhà Mạc.

    Trong luật của bất cứ nước nào đều có khái niệm về "phạm tội chưa đạt", tức vì lý do nào đó mà hậu quả không xảy ra hay xảy ra nhưng không theo ý muốn của người phạm tội, thì mức án sẽ giảm.

    Vua Lê cầu viện ngoại quốc là có thực, nhưng không có hậu quả gì trừ việc mất 1 mảnh đất ảo, tội này tính là nhẹ! Lê Chiêu Thống sang rước 1 đống quân Thanh vào, bị dân trong nước chửi là nội thuộc, tội nặng hơn nhiều.

    Thời đó chưa có chủ nghĩa dân tộc mạnh như ngày nay, nên việc mượn quân nước ngoài không hiếm: Nguyễn Ánh cầu viện Xiêm, Pháp là bằng chứng đó. Xa hơn thì hồi Ngô Tam Quế bị Khang Hy đánh tơi tả cũng cho người chạy sang nước ta xin viện binh đấy thôi. Đám vua chúa Cam sau này thì hơi tí lại có anh chạy sang Xiêm sang Việt cầu viện.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Tội rành rành ra đó rồi cần gì phải vạch nữa [IMG]images/smilies/24.gif[/IMG] Khi cần thì lôi ra nhắc đời thôi. Nhưng nên xét theo tư tưởng đạo đức thời bấy giờ thay vì lấy tư tưởng dân tộc của thế kỷ 21 áp vào. Lê Trang Tông rước nhưng quân Minh chưa sang. Giả sử quân Minh có sang đánh do lời "rước" đó, cũng chưa chắc thắng được nhà Mạc. Giả sử quân MInh đánh thắng được nhà Mạc, cũng chưa chắc chiếm được Đại Việt vì lúc đó Lê Trang Tông vẫn còn quân đội [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG] Tội danh giảm nhẹ từ bán nước xuống còn rước giặc về nước. Xét thấy tội này ngang hàng với tội của Nguyễn Ánh. Còn như Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc, Dương Nhật Lễ, Kiều Công Tiễn thì tội nặng hơn nhiều.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    8
    Bốn động (một số tài liệu ghi là 6 động) nhà Mạc cắt trả cho nhà Minh là đất thật, không phải đất ảo. Bốn động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát ở biên giới vốn là đất kimi, do thủ lĩnh bản địa cai quản, trước 1427 thuộc về nhà Minh, sau khi Lê Lợi giành chiến thắng thì thủ lĩnh bốn động này bỏ Minh mà quy về Đại Việt. Luật bất thành văn giữa các triều đại là thủ lĩnh bản địa về đầu ai thì đất của các thủ lĩnh này thuộc về nước đó, người mất không được đòi, nên sau khi thủ lĩnh bốn động này quy về nhà Lê thì đất đai 4 động này cũng quy về Đại Việt, nhà Minh chỉ cho người lên thuyết phục thủ lĩnh bốn động này quay về thần phục nhà Minh chứ không dám đòi triều Lê.

    Kể cả lúc nhà Mạc lên thì Minh cũng không dám đòi, bốn động này nhà Mạc giao lại cho Minh là phần trao đổi trong cuộc thương lượng trong đó Minh công nhận Mạc, ngưng gây áp lực ở biên giới và không hỗ trợ cho các lực lượng phù Lê như Trang Tông ở Ai Lao hay Vũ Văn Uyên ở Tuyên Quang nữa, chứ không phải là nhà Mạc "trả lại". Đấy là về danh nghĩa cho việc giao đất trở nên êm xuôi với cả hai phía là Minh và Mạc thôi. Chứ đất bốn động này dài mấy chục dặm, lại giữ vị thế hiểm yếu ở biên giới, ảo thế nào mà ảo.

    Lê Trang Tông ngoài việc cầu viện nhà Minh thì còn có thể dính líu đến chuyện cầu viện Ai Lao/Lão Qua đem quân về Việt Nam nữa. Minh thực lục chép: "Ngày 28 tháng 3 năm Gia Tĩnh thứ 9 (25/4/1530), quân dân phủ Nguyên Giang nhận được thư bằng chữ Miến của Tuyên ủy sứ Lão Qua là Chiêu Lãm Chương rằng: "Người con trưởng tên Quang Thiệu nước Giao Chỉ, đáng được thế tập chức, bị chú đuổi lưu vong, Lão Qua muốn dùng voi ngựa đưa trở về nước".

    Đoạn này Minh thực lục có lẽ chép nhầm, vì Lê Chiêu Tông (Quang Thiệu) bị nhà Mạc bắt và giết từ năm 1526 rồi, người được Lão Qua nhắc đến có lẽ là Lê Ninh (Trang Tông) lúc này đang lẩn trốn bên Ai Lao. Vì nhà Minh không chấp thuận cho Ai Lao đem quân mang Trang Tông về nước, nên mới có chuyện Nguyễn Kim tôn phò Trang Tông cũng ở Ai Lao sau đó 3 năm (1533). Bức thư Ai Lao gửi cho nhà Minh về danh nghĩa là xin phép, mà thực chất là lời đề nghị phối hợp xuất quân. Vì Minh từ chối, nên Ai Lao cũng mới đành bỏ ngang chuyện đem quân sang Đại Việt thôi.

    Ngoài ra thì, đúng là thời đó chưa có chủ nghĩa dân tộc theo nghĩa hiện đại bây giờ, nhưng không có nghĩa là không có ý thức về dân tộc, bảo vệ xã tắc, để mà thích làm gì thì làm. Không thì sao lại có lời này: "Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng". Những lời này là của Mạc Ngọc Liễn, một người cùng thời với Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm đấy.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Chỉ có mấy ông thời nay mới hay chửi thời xưa. Thời xưa thì trung với vua là yêu nước chứ có phải trung với đảng là hiếu với dân như thời nay đâu. Ngày xưa Tây Sơn chả gọi là ngụy còn gì

  6. #6
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Trích dẫn Gửi bởi Tôn Ngộ Chữ
    Chỉ có mấy ông thời nay mới hay chửi thời xưa. Thời xưa thì trung với vua là yêu nước chứ có phải trung với đảng là hiếu với dân như thời nay đâu. Ngày xưa Tây Sơn chả gọi là ngụy còn gì
    Tại vì giết vua nên mới bị xem là ngụy.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Trích dẫn Gửi bởi Mitsubishi Zero
    Tại vì giết vua nên mới bị xem là ngụy.
    Vua nào bị Tây Sơn giết? Lê Hiển Tông bệnh nặng, Nguyễn Huệ là con rể còn không dám vào thăm sợ chết đúng lúc đó lại mang tiếng thị phi. Lê Chiêu Thống chết bên Tàu.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    3
    Trích dẫn Gửi bởi Muitenbac777
    Vua nào bị Tây Sơn giết? Lê Hiển Tông bệnh nặng, Nguyễn Huệ là con rể còn không dám vào thăm sợ chết đúng lúc đó lại mang tiếng thị phi. Lê Chiêu Thống chết bên Tàu.
    Giết Định vương Nguyễn Phúc Thuần. Vì chúa Nguyễn đã xưng vương nên cũng coi là giết vua.

  9. #9
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Ngụy là nhà Nguyễn gọi, vì hai bên có thù với nhau, như nhà Lê Trịnh cũng gọi nhà Mạc là Ngụy vậy, chứ liên can gì đến việc giết vua hay không [IMG]images/smilies/21.gif[/IMG] Thông thường triều đại/chính quyền sau ít khi gọi tiền triều là ngụy, đơn giản vì là kẻ chiến thắng rồi, cũng nên bao dung (giờ cũng đang là xu thế như thế). Tuy nhiên có 2 triều bị triều sau gọi là Ngụy, đó là Mạc và Tây Sơn, lý do đơn giản vì 2 triều này bị những triều trước quật khởi giành lại giang sơn (Lê trung hưng và nhà Nguyễn là hậu duệ của chúa Nguyễn). Vậy nên làm gì thì làm, đã đánh thắng thì phải diệt cỏ tận gốc, đừng để sau này nó quật khởi trở lại thì mình thành ngụy. Vậy nên mới có câu chuyện, khi con mình dám ra vế đối là "Tây Sơn phục quốc", Thiệu Trị đã chửi là "Tây Sơn mà phục quốc, thì cả họ nhà mi không có chỗ mà chôn đâu".

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Trích dẫn Gửi bởi Tôn Ngộ Chữ
    Chỉ có mấy ông thời nay mới hay chửi thời xưa. Thời xưa thì trung với vua là yêu nước chứ có phải trung với đảng là hiếu với dân như thời nay đâu. Ngày xưa Tây Sơn chả gọi là ngụy còn gì
    Đạo TRUNG , ngoài trung với vua nó còn có nghịa là trung dung, chừng mực,giữa, vừa phải nó dạy cho người quân tử phải luôn công tâm có thể nhìn ra chỗ xấu của những cái mình yêu và nhìn ra được cái tốt của những thứ mình ghét.Luôn giữ được lễ độ trong mọi quan hệ giao tiếp ,ứng xử.....
    Mọi chế độ quân chủ đều yêu cầu người dân phải trung quân- ái quốc đó là hai điều cơ bản.Các bạn lưu ý ở đây không có nghĩa là trung quân nghĩa là ái quốc . Không chỉ xưa mà cả hiện nay những nước như ANH, NHẬT, THÁI.... cũng vẫn yêu cầu người dân điều này,,,Tiện đây tôi xin nói thêm vài nét về nho giáo.Nho giáo đã tồn tại cách đây hàng chục ngàn năm của gia tộc họ CƠ . Sau khi Chu Công- Cơ Đán được anh trai là Vũ Vương Cơ Phát phong cho nước Lỗ , ông đã phát triển văn hóa của tổ tiên ông tại nước Lỗ , vào khoảng 500 năm trước công nguyên một người nước Lỗ là Khổng Tử hệ thống lại vào 6 cuốn kinh sau đó truyền bá. Sáu cuốn kinh đó là:
    Kinh Thi (詩經 Shī Jīng): sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử. Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng. Một lần, Khổng Tử hỏi con trai "học Kinh Thi chưa?", người con trả lời "chưa". Khổng Tử nói "Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao" (sách Luận ngữ).
    Kinh Thư (書經 Shū Jīng): ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
    Kinh Lễ (禮記 Lǐ Jì): ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự xã hội. Khổng Tử nói: "Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời" (sách Luận Ngữ).
    Kinh Dịch (易經 Yì Jīng): nói về các tư tưởng triết học Trung Hoa dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái,... Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ. Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ. Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch. Khổng Tử giảng giải rộng thêm Thoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện và Hào truyện.
    Kinh Xuân Thu (春秋 Chūn Qiū): ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa.
    Ngoài ra còn có Kinh Nhạc nói về nghệ thuật âm nhạc và các loại nhạc khí, nhưng về sau bị Tần Thủy Hoàng đốt mất, chỉ còn lại một ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký. Như vậy 6 cuốn sách chỉ còn lại 5 cuốn, đời sau gọi đây là Ngũ kinh. Ngày nay, Ngũ kinh giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong các tác phẩm cổ điển Trung Quốc, nhờ có nó mà tới 2.500 năm sau, người Trung Quốc có hiểu biết tường tận về đời sống các mặt của tổ tiên trong xã hội xưa.
    Ngũ kinh đã đươc dạy trong các khoa cử ở nhiều nước trong đó có Việt nam và nó cũng được công nhận là di sản văn hóa thế giới
    Khổng Tử là người rất thông minh, luôn luôn ham học. Bất cứ việc gì, ông cũng để ý xem xét rất kỹ lưỡng để biết cho cùng tận mới thôi. Tánh ông ôn hòa, nghiêm trang, khiêm tốn, làm việc gì cũng hết sức cẩn thận, đề cao lễ nhạc, luôn luôn tin vào Thiên mệnh. Ông tin rằng con người được sinh ra trên đời này là có lý do, bản thân ông được Trời giao cho sứ mệnh góp sức xây dựng nên một xã hội quý trọng đạo đức và lòng hiếu học, và ông đã dành cả đời nỗ lực cho sứ mệnh đó.

    Còn để hiểu được mấy chữ TRUNG, HIẾU, NHÂN, LỄ, NGHĨA, DŨNG , TRÍ , TÍN thì phải học nhiều lắm .
    Còn để hiểu được tam tòng tứ đức còn phải học càng nhiều.
    Tôi cho một ví dụ thực tế:
    Ngày xưa tôi đi học thầy giáo có nói về '' tam tòng'' như sau: tòng có nghĩa là phục tùng... tại gia thì người phụ nữ cha mẹ bào sao nghe vậy ,,, tòng phu -- chồng bảo sao nghe thế-- tòng tử con nói gì '' cấm cãi''.....??????
    Cả một nền văn hóa đẹp như vậy tồn tại hàng chục ngàn năm trên hàng chục quốc gia mà qua tay mấy anh '' dân ruộng'' , kẻ thất phu mà nó ra như thế?
    Các bạn có thời gian thì tham khảo sách vở . Hiện nay nho giáo vẫn được giữ ở rất nhiều nước Nhật, Hàn, Trung Quốc....
    Tôi xin nói cho các bạn biết những điều cơ bản của đạo tòng phu:
    1-Giữ gìn trinh tiết khi lấy chồng.
    2-Chung thủy với chồng.
    3-Chồng chẳng may qua đời sớm ... thủ tiết thờ chồng , nuôi con..
    4- Hiếu nghĩa với cha mẹ chồng
    Còn nhiều nữa nhưng nói chung người phụ nữ giữ được 4 điều trên gọi là ổn. Trong các điều trên thì '' chế độ phong kiến chỉ can thiệp vào điều 2 ( chung thủy) ,,, Ngoại tình tội rất nặng... còn các điều còn lại thì khuyến khích. Cần phải có thái độ đúng đắn hơn với văn hóa dân tộc... mà không biết cái từ '' hủ nho'' ở đâu ra?

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •