Kết quả 1 đến 8 của 8
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    22

    Phía nam bình định Bách Việt

    Sơ lược

    Đầu thời Tần, người Hung Nô đã chiếm cứ vùng nam bắc Âm Sơn. Năm thứ ba mươi ba (năm 214 trước Công nguyên) Tần Thủy Hoàng sai Mông Điềm thống lĩnh ba mươi vạn đại quân đi trước đánh phá, chiếm được đất Hà Nam (một dải đất Hà Sáo thuộc tỉnh Nội Mông Cổ ngày nay), lập thành quận Cửu Nguyên (trị sở tại phía tây thành phố Bao Đầu ngày nay), đặt bốn mươi bốn huyện, men theo biên giới sắp đặt các công sự phòng ngự là bờ rào, ổ lũy, chòi canh. Lại đắp thêm nối liền trường thành nước Tần, Triệu, Yên. Đến năm đầu thời Tần Nhị Thế (năm 209 trước Công nguyên), Thiền vu Hung Nô là Đầu Man nhân cơ hội Trung Nguyên nhiễu động, lại chiếm lấy đất Hà Nam.


    Cái gọi là Bách Việt

    Kì thực là chỉ có các bộ tộc người Việt là Dương Việt, Âu Việt, Mân Việt, Nam Việt, Lạc Việt (Tây Âu) phân bố tại miền Hoa Đông, Hoa Nam.





    Năm thứ hai mươi tư (năm 223 trước Công nguyên) thời Tần Vương Chính, Vương Tiễn đem quân Tần diệt nước Sở, tiếp đó xuống phía nam, chiếm được một phần đất của người Việt, đặt thành quận Cối Kê (trị ở thành phố Tô Châu tỉnh Giang Tô ngày nay). Năm thứ hai mươi sáu, phát năm mươi vạn quân do Đồ Thư thống lĩnh, chia làm năm đường, vượt qua Ngũ Lĩnh. Người Việt đợi quân Tần mệt mỏi rồi tiến hành đánh trả, giết chết Đồ Thư. Tần Thủy Hoàng liền đó tăng thêm binh tướng, cuối cùng bình định Bách Việt vào năm thứ ba mươi ba, tại đấy đặt thành ba quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng, cùng đặt quân đồn đóng ven theo Ngũ Lĩnh. Như vậy, mấy chục vạn quân đồn đóng của Trung Nguyên liền ở lại giữa đất ấy, cùng ở lẫn với người bản địa, khai phát vùng Lĩnh Nam.

    Bách Việt lại xưng là tộc Bách Việt, là tên gọi chung của những tộc người có quan hệ hoặc không quan hệ với người Việt thời xưa và người phía nam Trung Quốc ngày nay. Trong sách vở cũng xưng là Bách Việt, Chư Việt. Trong tiếng Trung Quốc thường phiếm chỉ vùng đất phía nam. "Quá Tần luận" viết "Phía nam chiếm đất Bách Việt", "Thải thảo dược" viết: "Ở Chư Việt thì có đầy đào, mận vào mùa đông". Trong sách vở thời Tiên Tần, đối với các dân tộc sinh sống ở vùng đông nam thường gọi chung là "Việt". Như lời Lữ Trung Miễn tiên sinh nói "Từ sông Trường Giang về phía nam thì gọi là Việt". Ở giữa vùng đất rộng lớn này, thực tế vẫn còn nhiều bộ tộc, đều có chủng tính, cho nên vùng đất sinh sống khác nhau lại có tên khác nhau, hoặc xưng là "Ngô Việt" (một dải phía bắc tỉnh Chiết Giang, phía nam tỉnh Giang Tô), hoặc xưng là "Mân Việt" (một dải tỉnh Phúc Kiến), hoặc xưng là "Dương Việt" (một dải tỉnh Giang Tây, tỉnh Hồ Nam), hoặc xưng là "Nam Việt" (một dải tỉnh Quảng Đông), hoặc xưng là "Tây Âu" (một dải tỉnh Quảng Tây), hoặc xưng là "Lạc Việt" (một dải phía nam tỉnh Quảng Tây và phía bắc nước Việt Nam), vân vân. Do đó, "Việt" mới xưng là Bách Việt. Bách, ý nói là nhiều.

    越 tức 粤, thời xưa 粤, 越 dùng qua lại. 越 và 粤, âm cổ đọc như Wut, Wat, Wet. Là tiếng nói gọi "người" của người Giang Nam thời xưa, Việt nghĩa là "người". Chữ Bách trong Bách Việt là số nhiều, số ước chừng, không phải là số chính xác. Bách Việt là tên gọi chung của các bộ tộc phía nam. Nhà Hạ xưng là "Vu Việt"; nhà Thương xưng là "Man Việt" hoặc "Nam Việt"; "Việt" thời Chu Tần ngoài chỉ "nước Việt", cũng là tên gọi chung của các bộ tộc phía nam. Nhà Chu xưng "Dương Việt", "Kinh Việt"; thời Chiến quốc xưng "Bách Việt". "Hán thư - Địa lí chí" chú dẫn Thần Toản viết: "Từ Giao Chỉ đến Cối Kê bảy, tám nghìn dặm, người Bách Việt ở lẫn, đều có chủng tính". Thời Chiến quốc trở về trước, tên gọi "Thất Mân" xuất hiện sớm nhất trong sách "Chu lễ - Chức phương thị". Mân là tên gọi người Việt miền đông nam thời xưa. "Thuyết văn giải tự" của Hứa Thân nói: "Mân là người Việt miền đông nam, loài rắn". "Hán thư - Nghiêm Chu Ngô Khâu Chủ Phụ Từ Nghiêm Chung Vương Giả truyện" chép Hoài Nam Vương Lưu An viết thư can ngăn việc đánh Mân Việt nói: "Người Việt không có thành quách thôn làng, ở giữa hang suối, trong lũy tre", "đem địa đồ mà xem xét các chỗ sông núi hiểm trở, cách nhau không quá vài dặm, mà giữa đó chỉ có mấy trăm, nghìn dặm, rừng rậm hiểm trở chẳng thế ở được" "xen lẫn là rừng sâu, tre trúc rậm rạp, đường thủy lên xuống đất đá gập ghềnh, trong rừng có nhiều rắn rết, thú dữ". Từ ghi chép này cho thấy, các bộ tộc Bách Việt thời xưa phần nhiều sinh sống ở chỗ sông núi hiểm trở, ở giữa hang suối, rừng sâu, tre trúc rậm rạp, lại còn số lượng nhiều. "Chu lễ - Đông quan khảo công kí" lại xuất hiện tên gọi "Ngô, Việt". "Vãn Chu thư - Vương Hội giải" lại có các tên gọi "Đông Việt", "Ẩu Nhân", "Vu Việt", "Cô Muội", "Thả Âu", "Cộng Nhân", "Hải Dương", "Thương Ngô", "Việt Khu", "Quế Quốc", "Tổn Tử", "Sản Lí", "Cửu Khuẩn". Sách "Lộ sử" của người thời Tống là La Bí lại giải thích đầy đủ tên gọi của người Bách Việt có: "Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Thả Âu, Tây Âu, Cộng Nhân, Mục Thâm, Tồi Phu, Li Nhân, Thương Ngô, Việt Khu, Quế Quốc, Tổn Tử, Sản Lí, Hải Quý, Cửu Khuẩn, Kê Dư, Bắc Đái, Bộc Câu, Khu Ngô, đấy gọi là Bách Việt". (Tham khảo sách "Thử bàn sự khác nhau giữa người Bách Việt và người Bách Bộc", "Tráng tộc thông sử" của Hoàng Hiện Phan)

    Ngày nay cư trú tại phía nam Trung Quốc là các dân tộc nói ngữ hệ Tráng - Đồng và ngữ hệ Miêu - Dao, không kể ngôn ngữ, có người cho rằng người Bách Việt thời xưa có quan hệ mật thiết về văn hóa, tập tục. Ngoài ra, cũng có một số học giả cho rằng, một số dân tộc bán đảo Trung Nam ngày nay, ví dụ người Thái tại nước Thái, người Lão tại nước Lão Qua, người Shan tại Miến Điện, người Kinh và người Mường tại Việt Nam, thậm chí các dân tộc ở Đài Loan, thuộc dân tộc Nam Đảo, cũng có liên hệ mật thiết với người Bách Việt.


    http://www.hudong.com/wiki/%E5%8D%97...99%BE%E8%B6%8A

  2. #2
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    4
    Nguồn gốc Bách Việt

    Căn cứ vào ghi chép của sách vở, đã có các dân tộc được gọi là "Việt" sớm nhất tại thời Thương, Chu (người Trung Quốc thời xưa nói người rợ miền đông nam là "Việt", người rợ miền bắc là "Hồ"), sinh sống tại miền nam và đông nam của Trung Quốc ngày nay (Vương Đông, 2003, 3). Căn cứ vào bằng chứng khảo cổ học trước mắt, có di chỉ "Văn hóa Hà Mẫu Độ" thuộc tỉnh Chiết Giang cách ngày nay 7000 năm, rất có thể là văn hóa do người Việt sáng tạo nên. Di chỉ Hà Mẫu Độ phát hiện được dấu vết của hạt lúa, lá lúa và vỏ lúa, là phát hiện văn hóa trồng lúa nước sớm nhất thế giới, sau đó phát hiện di chỉ Bùi Lí Cương, di chỉ Giả Hồ tại lưu vực sông Hoàng Hà và di chỉ Bành Đầu Sơn tại lưu vực sông Trường Giang phát hiện văn hóa trồng lúa nước sớm nhất. Ngoài ra, các nhà khảo cổ học ngày nay cũng phần nhiều nhận định rằng, những hoa văn trên đồ gốm phân bố rộng khắp ở các vùng phía nam Trung Quốc chủ yếu là dấu vết văn hóa riêng biệt, có thể cũng là do người Việt sáng tạo nên. Các nhà khảo cổ học trong vòng mấy chục năm trở lại đây nêu rõ: Những hoa văn trên đồ gốm chủ yếu là dấu vết văn hóa riêng biệt, tại thời điểm bắt đầu cuối thời đồ đá mới cách đây hơn 4000 năm trước, phát triển liên tục đến thời kì Thương, Chu, Tần, Hán, không gian phân bố tại một dải đất Lĩnh Nam và miền đông nam Trung Quốc. (Vương Đông, 2003, 3)


    Lịch sử Bách Việt

    Lịch sử Bách Việt và "người Việt cổ" có quan hệ lẫn nhau, ghi chép sách vở sớm nhất đề cập đến "Vu Việt", Vu Việt là tiền thân của nước Việt thời Xuân thu, muộn nhất vào thời Thương đã tồn tại. Tuy chưa tham gia cùng Vũ Vương đánh vua Trụ, nhưng ít nhất từng lên phía bắc làm khách của Chu Thành Vương. Nước này truyền đến thời Câu Tiễn (năm 500 B.C), ông ta bắt đầu khuếch trương thế lực lên phía bắc, từng men theo bờ biển Giang Tô lên phía bắc đến vịnh Giao Châu. Quan hệ chủ yếu sớm nhất giữa người Việt cổ và người Hán là trao đổi mua bán, người Việt đem các đồ xa xỉ như ngà voi, đồi mồi, lông chim phỉ thúy, sừng tê, ngọc khuê và gỗ thơm để trao đổi tơ lụa và sản phẩm thủ công của phương bắc. (Chung Luận Nạp 2004)






    Cuối thời thời Xuân thu đến thời Chiến quốc, người Việt từng lập nên nước Việt to lớn tại một dải tỉnh Chiết Giang ngày nay, cả thảy truyền 8 đời, trải qua hơn 160 năm, thề minh với các nước Trung Nguyên cùng thời, xưng hùng miền Giang Hoài, hiệu xưng là "Bá chủ" (xem "Câu Tiễn" điều mục: Trần Quốc Cường 2000). Có học giả căn cứ vào ghi chép "Việt Vương Câu Tiễn thế gia" trong "Sử kí" mà cho rằng người Việt là dòng dõi của Hạ Vũ. Nhưng, học giả Trung Quốc là Tống Thục Hoa từng nghiên cứu về người Bách Việt cho rằng: "Tổ phụ của Câu Tiễn là Phù Đản trở về trước đến thời con thứ của vua Thiếu Khang nhà Hạ là Vô Dư, thế hệ không rõ ràng; từ thời vua Thiếu Khang nhà Hạ đến thời Thương, qua thời Chu Kính Vương cả thảy hơn 60 đời, thế hệ của hai người cách nhau đến 1000 năm, nói Việt Vương Câu Tiễn là dòng dõi vua Thiếu Khang nhà Hạ, thực khó tin được" (dẫn từ Cung Bội Hoa nd). Ngoài ra, Tống Thục Hoa cũng cho rằng văn hóa Hạ và văn hóa Việt rõ ràng không giống nhau, vì: "Vùng đất sinh sống của người Hạ chưa phát hiện được "văn hóa khắc hoa văn đồ gốm", mà vùng đất sử dụng "hoa văn đồ gốm" cũng chưa từng phát hiện được tại "Văn hóa Nhị Lí Đầu"". (dẫn từ Cung Bội Hoa nd)

    Năm 333 trước Công nguyên, Sở Thành Vương đem binh đánh người Việt, cả phá nước Việt, chiếm hết đất Ngô Việt. Từ đấy, người Việt lưu tán đến một dải phương nam, phân hóa thành nhiều nhóm. Cho nên, bắt đầu từ thời này, trong sách vở xuất hiện một tên gọi mới là "Bách Việt". Cuối thời Chiến quốc, ngoài các tên gọi Bách Việt còn có tên gọi "Dương Việt", tức người Việt tại vùng Dương Châu. Dương Châu bao trùm cả vùng phía đông của đất Lĩnh Nam và vùng hạ lưu sông Trường Giang, Hoài Nam, có lúc lại bao trùm cả vùng đất Lĩnh Nam. Do đó, thực tế Dương Việt cũng là tên gọi phiếm chỉ một nhóm người riêng biệt của người Việt thời Chiến quốc đến thời Tần Hán (Vương Đông 2003, 3; Trần Quốc Cường 2000).

    Thời Tần Hán, các sách sử liên quan thì gọi chung dân tộc phía nam Trung Quốc là "người Việt", sách sử lại xưng là "người Hồ miền bắc, người Việt miền nam". Do sự phát triển và biến đổi của lịch sử, đến đầu thời nhà Hán, người Bách Việt đã dần dần hình thành mấy bộ phận cường thịnh và rực rỡ, là "Đông Âu (Đông Hải), "Mân Việt", "Nam Việt", "Tây Âu", và "Lạc Việt". Đông Âu tại một dải Ôn Châu phía nam tỉnh Chiết Giang ngày nay; Mân Việt tại một dải Phúc Châu tỉnh Phúc Kiến ngày nay; Nam Việt tại tỉnh Quảng Đông ngày nay, sau đó phát triển đến Quảng Tây cho đến vùng đất phía nam ngày nay; Tây Âu thì đại khái phân bố tại phía tây tỉnh Quảng Đông, phía nam tỉnh Quảng Tây cho đến phía nam ngày nay; Lạc Việt chủ yếu phân bố tại phía bắc Việt Nam ngày nay. Một số bộ phận này đều hình thành trung tâm chính trị của vùng đất ấy, ví dụ đời vua thứ nhất của nước Mân Việt là Vô Chư, đời vua thứ nhất của nước Đông Hải là Sô Dao, cho đến vua của nước Nam Việt là Triệu Đà, đều rừng trải qua thời gian mây gió vần vũ không ngừng (Trần Quốc Cường 2000).

    Người Việt lập nên một số trung tâm chính trị, sau đó đều bị Hán Vũ Đế chinh phục, đổi thành quận huyện của nhà Hán. Từ đó về sau, một số tên gọi của người Bách Việt không được sử sách ghi chép, tên gọi của người Việt cũng ít gặp (Trần Quốc Cường 2000).



    http://www.hudong.com/wiki/%E5%8D%97...99%BE%E8%B6%8A

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    2
    Đặc điểm văn hóa Bách Việt

    Người Bách Việt có đặc điểm văn hóa, cuộc sống và tiếng nói của riêng mình. Tiếng Bách Việt là loại hình tiếng nói dính liền, không giống với tiếng đơn âm của tiếng Hán, cho nên phiên dịch tiếng Bách Việt thành tiếng Hán thường một chữ thành hai chữ, ví như chữ ái dịch thành "liên chức", chữ thục dịch thành "hú hà". Có người cho rằng tiếng Bách Việt gần giống với tiếng thuộc ngữ hệ Tráng - Đồng ngày nay.

    Phong tục tập quán, cuộc sống của người Bách Việt có đặc điểm riêng, chủ yếu là nhổ răng, vẽ mình, cắt tóc ngắn; khắc lên cánh tay làm lời thề; ăn nhiều hải sản; ở nhà sàn; giỏi dùng thuyền và chiến đấu trên nước; cho đến giỏi đúc đồ đồng, như các loại kiếm đồng xanh, chuông đồng (chuông lắc lớn).



    http://www.hudong.com/wiki/%E5%8D%97...99%BE%E8%B6%8A

    Ảnh hưởng văn hóa của Bách Việt


    Tuy đã tìm hiểu không có bộ tộc hoặc dân tộc nào có tên là "Bách Việt", nhưng, văn hóa Bách Việt thực tế vẫn hiện rõ qua phương thức của nhiều tộc người khác nhau, ở trong văn hóa của rất nhiều dân tộc thiểu số khác nhau còn lưu giữ các dấu vết. Dưới đây là một số cái giống nhau cần xem xét thêm.

    - Ảnh hưởng về ngôn ngữ của một số dân tộc ngày nay

    Ngày nay có một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ đang chỉ ra rằng, từ khi người Bách Việt bị Hán hóa về sau, người Bách Việt sử dụng rất nhiều từ ngữ, tức xét dấu cũ còn lưu giữ tại không ít dân tộc thiểu số, ví như một số dân tộc thiểu số tại Trung Quốc như dân tộc nói ngữ hệ Miêu - Dao và ngữ hệ Tráng - Đồng, được xếp vào phương ngôn phương nam của phương ngôn tiếng Hán, thậm chí bao quát cả dân tộc Nam Đảo ở các nước Indonesia, Malaysia, Hawaii, New Zealand, tiếng nói của họ đều có thể xếp vào "từ cùng gốc" của tiếng Bách Việt cổ (Lô Dật Kì 1997). Ví dụ, một từ "con nhện" (lakwa) trong tiếng Bách Việt cổ, thì phát âm giống nhau với tiếng Holo (phát âm là laaqiaa), tiếng Khách Gia (phát âm là lakia), tiếng Dư (phát âm là laukhoe), tiếng Malaysia/Indonesia (phát âm là lawa, lawa-lawa, labah-labah), tiếng Hawaii (phát âm là lanalana, nananana), cho đến tiếng Rapanui của người Maori ở New Zealand (phát âm là nanai).

    - Ảnh hưởng về phong tục của một số dân tộc ngày nay

    Cái gọi là "táng tẩy xương", hoặc gọi là "táng hai lần", có tại các vùng từ sông Trường Giang về phía nam của Trung Quốc, ví dụ người Hán tại các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Đài Loan cho đến rất nhiều dân tộc thiểu số, ví dụ người Tráng, người Tạng đều có phong tục này. Sự thật, cho đến ngày nay, người Khách Gia và người Holo tại Đài Loan cũng chọn nghi thức táng này, ở mộ đất mấy năm sau mới mở áo quan lấy xương ra, sau đó đem hết xương cốt vào trong cái hũ gốm gọi là "kim đầu".

    Phong tục táng tẩy xương này, thực sự không phải là phong tục vốn có của người Hán, mà là một đặc trưng văn hóa phân bố rộng khắp trong các dân dân tộc nguyên thủy xung quanh Thái Bình Dương, bao rộng đến đại lục Trung Quốc, miền đông nam và đông bắc châu Á, các đảo nam Thái Bình Dương cho nên châu Bắc Mĩ, Nam Mĩ. Dựa vào nghiên cứu của học giả nghiên cứu dân tộc học thuộc Viện nghiên cứu Trung ương Đài Loan là Lăng Thuần Thanh, thì văn hóa tẩy xương là văn hóa thuộc phạm vi của các dân tộc thiểu số, cơ bản đều là tập tục văn hóa cùng nguồn gốc, và vùng đất nguồn gốc sớm nhất của tập tục này chính là vùng đất Hoa Nam của các bộ tộc Bách Việt.


    http://www.hudong.com/wiki/%E5%8D%97...99%BE%E8%B6%8A

  4. #4
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    Chiến tranh giữa nhà Tây Hán và nước Nam Việt, nước Mân Việt



    Lời tựa

    Năm thứ năm thời Hán Cao Hậu (năm 183 trước Công nguyên) đến năm Nguyên Phong thứ nhất thời Hán Vũ Đế (năm 110 trước Công nguyên), là thời gian chiến tranh nhà Tây Hán bình định các nước Nam Việt (đô ở Phiên Ngu, thành phố Quảng Châu ngày nay), Mân Việt (đô ở Đông Dã, thành phố Phúc Châu ngày nay).


    Giới thiệu

    Năm thứ năm thời Hán Cao Hậu (năm 183 trước Công nguyên) đến năm Nguyên Phong thứ nhất thời Hán Vũ Đế (năm 110 trước Công nguyên), là thời gian chiến tranh nhà Tây Hán bình định các nước Nam Việt (đô ở Phiên Ngu, thành phố Quảng Châu ngày nay), Mân Việt (đô ở Đông Dã, thành phố Phúc Châu ngày nay). Năm 221 trước Công nguyên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất nhà nước tập quyền trung ương phong kiến, tại một dải các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến ngày nay lập thành quận mà thống trị. Sau khi nhà Tần mất, hình thành ba chính quyền cát cứ là Đông Âu (trị ở Đông Âu, thành phố Ôn Châu tỉnh Chiết Giang ngày nay), Mân Việt, Nam Việt. Đầu thời Tây Hán, nhà Hán dùng chính sách vỗ về các nước này. Năm thứ năm thời Cao Đế (năm 202 trước Công nguyên), Lưu Bang lập lại người mà thời Tần bị phế làm quân trưởng, giúp Hán đánh Sở trong cuộc chiến tranh Sở - Hán là Mân Việt Vương Vô Chư làm Mân Việt Vương. Năm thứ mười một (năm 196 trước Công nguyên), Lưu Bang sách phong người tự lập ở Nam Việt là Triệu Đà làm Nam Việt Vương. Năm thứ ba thời Huệ Đế (năm 192 trước Công nguyên), Huệ Đế lập lại Đông Hải Vương Dao trước đây làm Đông Hải Vương (dân xưng là Đông Âu Vương). Đến đây, Nam Việt, Nam Việt, Đông Âu chia ra làm phiên thần của nhà Hán. Năm thứ năm thời Cao Hậu, nhà Tây Hán đóng cửa ải buôn bán với nước Nam Việt, ngăn chặn trao đổi đồ sắt, trâu cái, làm khó sản xuất nông nghiệp của Nam Việt, làm xấu quan hệ với Nam Việt. Triệu Đà tự hiệu là Nam Việt Vũ Đế. Triệu Đà cho rằng ngăn chặn buôn bán là do Trường Sa Vương li gián, bèn phát binh đánh úp biên giới của nước Trường Sa. Cao Hậu lệnh Long Lự Hầu Chu Táo đem quân đánh Nam Việt, vì quân sĩ không quen đất nước miền nam, quân mệt mỏi chẳng nên công. Cao Hậu chết, nhà Hán bãi binh.


    Nguồn gốc

    Văn Đế kế vị, sai Thái trung Đại phu Lục Giả đem thư cho Triệu Đà, khuyên ông ta nội thuộc. Triệu Đà vâng lệnh, dùng lại hiệu Nam Việt Vương. Năm thứ ba thời Cảnh Đế (năm 154 trước Công nguyên), bảy nước Ngô, Sở phản loạn, nước Đông Âu cũng tham gia phản loạn. Quân Ngô, Sở thua trận, Ngô Vương Lưu Tị đến nước Đông Âu, Đông Âu Vương bị nhà Hán mua chuộc, giết Lưu Tị. Con của Lưu Tị là Lưu Câu trốn đến nước Mân Việt, căm hận nước Đông Âu.

    Vì trả thù cho cha, Lưu Câu vào năm Kiến Nguyên thứ ba (năm 138 trước Công nguyên) thời Vũ Đế cùng mưu với nước Mân Việt, phát binh vây đánh Đông Âu, Đông Âu Vương cáo cấp với nhà Hán. Vũ Đế Lưu Triệt lệnh Nghiêm Trợ đem quân theo đường biển cứu Đông Âu, chưa đến, quân Mân Việt rút lui. Đông Âu Vương tấu xin đem hết dân chúng dời đến vùng sông Trường Giang, sông Hoài, nước Đông Âu mất. Năm Kiến Nguyên thứ sáu, Mân Việt lại cử binh lần nữa, đến xâm phạm quận huyện biên giới của nước Nam Việt. Vũ Đế dùng Đại hành Vương Khôi, Đại Nông lệnh Hàn An Quốc chia ra đem quân xuống phía nam đánh Mân Việt. Quân Hán chưa đến, em của Mân Việt Vương là Dư Thiện và họ hàng đại thần cùng giết Mân Việt Vương hàng quân Hán. Vũ Đế phong cháu của Mân Việt Vương Vô Chư làm Việt Dao Vương, sau vì Dư Thiên ra oai trong nước, Dao Vương không thế ngăn chặn, lại phong Dư Thiện làm Đông Việt Vương, cùng lập với Dao Vương.


    Trải qua

    Năm Nguyên Đỉnh thứ tư (năm 113 trước Công nguyên), Vũ Đế sai bọn An Quốc Thiếu Quý đến Nam Việt, đem lệnh dụ Nam Việt Vương, Vương Thái hậu vào chầu giống với chư hầu trong nước. Cùng lệnh Vệ úy Lộ Bác Đức đóng quân ở Quế Dương tiếp ứng. Trong tập đoàn thống trị Nam Việt chia rẽ: Nam Việt Vương Triệu Hưng, Vương Thái Hậu họ Cù chủ trương vào kinh hầu cận, cùng gửi thư lên Vũ Đế, nguyện theo luật lệ của chư hầu trong nước, ba năm hầu cận một lần; Thừa tướng ba đời của Nam Việt là Lữ Gia hết sức phản đối, đôi bên đấu tranh dữ dội. Vũ Đế lệnh Hàn Thiên Thu đem 2000 quân vào nước Việt muốn giết Lữ Gia. Lữ Gia bèn phản. Vào mùa xuân năm Nguyên Đỉnh thứ năm, giết Nam Việt Vương, Vương Thái hậu và sứ giả nhà Hán, giết hết quân của Hàn Thiên Thu, lập riêng Triệu Kiến Đức làm Vương.

    Mùa thu năm đó, Vũ Đế sai quân của bọn Lộ Bác Đức, Dương Bộc chia thành năm đường theo đường sông đến đánh Nam Việt. Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ sáu, quân Hán đánh chiếm thành Phiên Ngu của Nam Việt, bắt sống Nam Việt Vương và Lữ Gia. Nước Nam Việt mất. Tại Nam Việt nhà Hán lập thành chín quận Nam Hải, Đam Nhĩ, Châu Nhai, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.

    Lúc quân Hán ra đánh Nam Việt, Đông Việt Vương Dư Thiện gửi thư nguyện đem 8000 quân theo Lâu thuyền Tướng quân Dương Bộc đem quân đi, nhưng kì thực sau khi đem quân đến Yết Dương (phía tây bắc huyện Yết Dương tỉnh Quảng Đông ngày nay), mượn cớ cửa biển sóng to gió lớn, dừng lại không đi, ngấm ngầm sai người liên lạc với Nam Việt. Đến lúc quân Hán bình định Nam Việt, quân Đông Việt vẫn chưa đi đến. Dương Bộc gửi thư lên, tấu xin thừa thắng mà đánh Đông Việt. Vũ Đế chưa cho phép, lệnh các tướng lĩnh của các đường đóng quân ở biên giới Đông Việt đợi lệnh. Dư Thiện nghe tin xong, tự lập làm Vũ Đế, đem binh chống giữ các đường trọng yếu của quân Hán. Mùa thu năm Nguyên Đỉnh thứ sáu, Vũ Đế hạ lệnh chia quân đánh dẹp Đông Việt. Đến năm Nguyên Phong thứ nhất (năm 110 trước Công nguyên), quân Hán các đường đi đến nước Đông Việt, lúc đầu Kiến Thành Hầu Ngao và Dao Vương Cư Cổ của Đông Việt cùng mưu, giết Dư Thiện hàng quân Hán. Vũ Đế xét thế đất Mân Việt hiểm trở, người nước này lại nhiều lầm mưu đồ phản nhà Hán, hạ chiếu lệnh các tướng lĩnh của các đường đem dân nước này dời đến vùng đất Giang, Hoài. Nước Mân Việt bèn mất. Đến đấy, các nước Đông Việt, Nam Việt trong thời gian dài cát cứ đều quy thuộc nhà Hán.


    http://www.hudong.com/wiki/%E8%A5%BF...88%98%E4%BA%89

  5. #5
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    0
    Bản đồ hình thế mười bảy vương quốc cuối thời Hán Văn Đế





    Lí Thái Hàng chú thích: Xem trong bản đồ thì thời Văn Đế, các nước Mân Việt (闽越), Nam Việt (南越), Đông Âu (东瓯) không thuộc lãnh thổ nhà Hán (汉朝) {đường ranh giới lãnh thổ nhà Hán là các vạch đứt}


    http://www.qingchao.net/lishi/qinhanxw/

    Cuộc chiến nước Sở thôn tính Bách Việt


    Trong bản đồ phân phong chư hầu của nhà Tây Chu, nước Sở vẫn là một nước nhỏ miền biên giới phía nam. Giữa bức tranh mây gió vần vũ thời Xuân thu - Chiến quốc, nước Sở trở thành nước cực lớn trong cục diện chư hầu tranh hùng với tốc độ khiến người ta kinh ngạc. Sử sách phần nhiều ghi chép về việc nước Sở hướng về Trung Nguyên ở phía bắc, cùng các nước lớn như nước Tần, nước Tấn tranh giành. Xem qua người Sở từ đầu đến cuối đều chưa từng ngừng nghỉ một cuộc chiến tranh: Cuộc chiến xuống phía nam đánh chiếm Bách Việt. Vào thời trưởng thành và khuếch trương của văn minh Hoa Hạ, người Sở đang đóng vai trò là cái sừng to lớn mở mang nơi hoang dã phía nam của dân tộc Hoa Hạ.

    Vì nguyên nhân sinh tồn, người Sở từ lúc bắt đầu dựng nước liền ngoảnh mặt về phía nam uy hiếp dữ dội các bộ tộc Man phương nam. Diệt Tam Miêu, bình Sơn Việt, đất đai của nước Sở lấy đồng bằng sông Hán làm trung tâm, sau đó khuếch trương về các tỉnh phía nam Trung Quốc, cuối cùng có được bản đồ to lớn "nước Sở rộng nghìn dặm", nhưng người Sở trong các lần chiến tranh cũng tiếp thu văn minh Hoa Hạ, thay đổi từ bộ lạc thành nhà nước văn minh. Năm 740 trước Công nguyên, Sở Văn Vương dựng đô ở đất Dĩnh, sau mấy năm, Thiên tử nhà Chu gửi thứ đến Sở Vương, chính thức thừa nhận địa vị chư hầu của nước Sở, sau đó bắt đầu sự cường đại của nước Sở. Từ đó trong vòng mấy trăm năm sau, nước Sở một mặt lên phía bắc đến Trung Nguyên, tham dự trong cuộc theo đuổi tranh giành xưng bá với chư hầu, mặt khác thì liên tục mở rộng đất đai về phương nam, phía bắc lên Trung Nguyên là nước Sở mưu đồ sự hiển hách của nước lớn, phía nam chiếm đất đai Bách Việt là nước Sở đề cao lãnh thổ rộng lớn, làm cho nước Sở đầy đủ về tài vật, nhân khẩu và kinh tế. Các đời vua của nước Sở đều dùng chính sách "xuống phía nam" là gốc rễ sinh tồn của nhà nước. Thời bản đồ nước Sở cực lớn, phía bắc đến Hoàng Hà, phía đông đến Giang Nam, phía nam đến đất Lưỡng Quảng, tổng diện tích đạt đến hơn 100 kilômét vuông, hơn 500 vạn nhân khẩu, đất đai ứng với bảy tỉnh phía nam ngày nay. Giữa thời gian tương ứng với thời Thương Ưởng thi hình biến pháp, thực tế nước Sở là nước có đất đai rộng lớn nhất trong các nước chư hầu thời Xuân thu - Chiến quốc. Và nước Sở đối với việc mưu đồ và mở mang vùng đất phương nam Trung Quốc, cũng là bước đệm trực tiếp cho Tần Thủy Hoàng phát động xuống phía nam sau khi thống nhất Trung Quốc.

    Lại xét ý nghĩa sâu xa ở đấy, đường mở mang xuống phương nam của nước Sở giống một lò nung lớn, đem các bộ tộc phía nam Trung Quốc nối liền dung hòa vào trong dòng máu sôi sục của dân tộc Hoa Hạ. Nước Sở trong cuộc chiến tranh lâu ngày, thực sự đóng vai trò là một chiếc cầu giữa nam - bắc Trung Quốc. Khiến cho văn minh Hoàng Hà và văn minh Trường Giang từ đấy giao lưu dung hòa, các tỉnh miền nam Trung Quốc từ nước Sở bắt đầu ngày càng nối liền một thể với Trung Nguyên, dần dần nạp vào văn minh Hoa Hạ, sử sách tổng kết Tần Thủy Hoàng xuống phía nam đánh Bách Việt và Hán Vũ Đế mưu đồ miền đông nam là việc lớn trọng đại trong tiến trình xuống phía nam của văn minh Hoa Hạ, nhưng nước Sở thời Xuân thu - Chiến quốc mới là người thăm dò đường lối sớm nhất.


    http://bbs.fj86.com/thread-20430-1-1.html

    Bản đồ di cư của người da vàng (Mongoloid)




    http://tieba.baidu.com/f?kz=514605819


    Lí Thái Hàng chú thích: Người da vàng từ Nam Á lên phía bắc thành người Bách Việt (百越), Miêu Dao (苗瑶), Hán Tạng (汉藏).

    Bản đồ thời Chiến quốc (Warring States Period)





    Chú thích:

    Chu (楚 Sở)

    Yang Yue (揚粵 Dương Việt)

    Eastern Yue (東粵 Đông Việt)



    http://www.chinaknowledge.de/History/Zhou/zhou-map.html

  6. #6
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    11
    Cuộc chiến quân Tần xuống phía nam đánh Bách Việt là cuộc chiến thế nào


    Chúng ta đều biết, vào năm hai mươi sáu (năm 221 trước Công nguyên) Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất sáu nước đã phát động chiến dịch mở rộng lãnh thổ nam, bắc. Năm thứ ba mươi hai sai Đại Tướng quân Mông Điềm đem ba mươi vạn quân đi đánh Hung Nô phía bắc, một năm sau lãnh thổ mở rộng đến một dải Âm Sơn, điều này được "Sử kí" ghi chép, còn ghi chép về Mông Điềm nữa. Nhưng đối với cuộc chiếm xuống phía nam đánh Bách Việt mở rộng lãnh thổ phía nam, "Sử kí" chép sơ qua và rải rác, ví dụ một quyển sách là "Hoài Nam Tử" sớm hơn "Sử kí" năm mươi năm có một đoạn ghi chép, nhưng vẫn vì sơ qua cho nên vẫn còn những tin tức thiếu sót và vùng đất không rõ ràng. Đối với điều này, sử gia thời xưa cơ bản không đề cập đến, nhưng sử gia ngày nay thì đều có các suy đoán, lí lẽ. Nhưng vì đều là suy đoán, nên xem suy đoán nào hợp lí, gần với sự thật lịch sử.


    Chủ tướng quân Tần là ai

    "Hoài Nam Tử" chép Tần Thủy Hoàng sai "Hiệu úy Đồ Thư (Sui) phát năm mươi vạn quân chia thành năm đường", do đó mọi người đều cho rằng chủ tướng của năm mươi vạn quân Tần là Đồ Thư. Gần đây có mấy vị sử gia đề xuất câu hỏi, cho rằng Đồ Thư chỉ là một quan Đô úy, tên tuổi không thấy trong sách truyện, đảm nhiệm chủ tướng của năm mươi vạn đại quân thì có lẽ cấp bậc không hợp. Ngoài ra, đất đai Bách Việt rất rộng lớn, phía đông tại các tỉnh Chiết Giang, tỉnh Phúc Kiến ngày nay có bộ tộc Đông Âu, bộ tộc Mân Việt, ở giữa tại tỉnh Quảng Đông ngày nay có bộ tộc Nam Việt, phía tây tại tỉnh Quảng Tây ngày nay thẳng đến miền bắc, miền trung Việt Nam có bộ tộc Tây Âu, bộ tộc Lạc Việt. Trong các bộ tộc này còn "đều có chủng tính", cho nên gọi là Bách Việt. Đường đánh trận đông tây của quân Tần dài mấy nghìn dặm, thời bấy giờ lại không có điện tuyến thông tin, do một người là Đồ Thư chỉ huy đại quân của năm đường là không thể. Một trăm năm sau, Hán Vũ Đế bình định Lĩnh Nam cũng phát đại quân theo năm đường, năm đường này đều có các chủ tướng, đều tự chiến đấu, sách sử còn nêu rõ họ tên, quan chức của từng chủ tướng các đường này. Có thể suy đoán, năm đường quân Tần cũng phải có các chủ tướng, đều tự chiến đấu, chỉ là các chủ tướng vì không được ghi chép họ tên nên mới không truyền lại.


    Quân Tần chia mấy đường phát động tiến công

    "Hoài Nam Tử" nói quân Tần chia thành năm đường, địa điểm tập kết đại khái tại phía nam, phía đông của tỉnh Giang Tây ngày nay và phía nam của tỉnh Hồ Nam ngày nay, sử gia sau này cũng đều nói là năm đường. Nhưng gần đây có sử gia cho rằng là bốn đường, tôi cũng nghiêng về bốn đường. Tại phía đông tỉnh Giang Tây ngày nay là quân đường phía đông, tầm ngắm là các bộ tộc Đông Âu, Mân Việt trong các tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến ngày nay, cuộc tiến công của quân đường phía đông rất thuận lợi, rất nhanh đánh chiếm Đông Âu và Mân Việt, tại đấy đặt thành quận Mân Trung. Tại phía nam tỉnh Giang Tây ngày nay và phía nam tỉnh Hồ Nam ngày nay có hai đường, có thể gọi chung là quân đường giữa, tầm ngắm là thành Phiên Ngu (Quảng Châu ngày nay) của nước Nam Việt. Một đường phía nam tỉnh Giang Tây đi vào huyện Nam Hùng của tỉnh Quảng Đông, men theo sông Trinh mà đi, một đường phía nam tỉnh Hồ Nam đi vào huyện Liên Châu của tỉnh Quảng Đông men theo sông Liên Giang mà đi. Sông Trinh và sông Liên Giang đều chảy vào sông Bắc Giang, quân của hai đường này men theo sông Bắc Giang mà xuống phía nam thẳng đến thành Phiên Ngu. Hai đường của quân đường giữa cũng đánh rất thuận lợi, phải đến hai năm mới đánh chiếm được nước Nam Việt. Đường thứ tư là quân đường phía tây, đường đi của quân đường phía tây phải là miền Giang Hoa, Đạo Châu của phía nam tỉnh Hồ Nam và miền Hạ Châu, Phú Xuyên của tỉnh Quảng Tây đến thắng Ngô Châu, Quý Cảng. Mục tiêu tiến công của quân đường phía tây là nước Tây Âu một dải Ngô Châu, Quý Cảng của tỉnh Quảng Tây ngày nay. Ba đường đi của quân đường giữa và quân đường phía tây chủ yếu là con đường chủ yêu đi vào các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây từ thời Xuân thu - Chiến quốc, quân Tần chắc chắn lợi dụng con đường cũ mà phát động tiến công. Không ít sử gia cho rằng quân đường phía tây còn có một đường đi nữa là men theo đường nối sông Tương - sông Li thuộc huyện Hưng An ngày nay, như thế mới có năm đường. Kì thực lúc quân Tần phát động tiến công còn chưa đào kênh Linh Cừ nối liền sông Tương - sông Li, con đường này không có, cho nên quân Tần tiến công Bách Việt chỉ có bốn đường, đường Đạo Châu của quân đường phía tây, sách sử chí địa phương gọi là "đường cũ Tiêu Hạ", ngày nay chúng tôi đến Giang Hoa, Phú Xuyên còn được xem qua dấu vết của con đường cũ này. Sau này Hán Vũ Đế bình định Lĩnh Nam phát năm đường tiến công thành Phiên Ngu của Nam Việt, có ba đường đại quân vẫn men theo hai đường cũ của quân Tần, một theo con đường phía tây mà tiến công, vì kênh Linh Cừ đã mở ra, quân thủy của đường thứ tư từ sông Tương - Li vào sông Tây Giang mà tiến công, đường thứ năm từ Quý Châu ngày nay mà xuất phát. Kết quả là quân Hán từ đường Nam Hùng và đường Liên Châu của quân đường giữa đánh chiếm Phiên Ngu trước tiên, vì hai đường này cách Phiên Ngu gần nhất, đi đường cũng rất dễ dàng, mà quân Hán từ đường Đạo Châu và quân thủy tử đường sông Tương - Li còn đang đi trên đường, đường thứ năm lại chậm ở mặt sau. Do đó có thể suy đoán hai cánh quân đường giữa của quân Tần đánh chiếm Nam Việt nhanh hơn.


    Trận chiến của quân đường phía tây thế nào

    Đánh gian khổ nhất là quân đường phía tây. "Hoài Nam Tử" ghi chép thế này: Sau khi quân Tần vào Tây Âu thì "ba năm không cởi giáp giãn nỏ", vì gặp phải hai điều rắc rối lớn, một là không có cách chống đỡ người Tây Âu lợi dụng rừng núi đánh du kích, lại nữa đường đi lại hậu cần bị phá hoại không tiếp tế được lương thảo. Lúc này quân Tần mang theo khí giới không dám cởi bỏ cung tên, tiến thoái đều khó. Tướng lĩnh là viên quan làm Giám ngự sử tên là Lộc (họ không rõ) không có cách gì vận chuyện lương thực, do đó đem quân lính đào kênh (Linh Cừ) mở ra đường vận lương. Quân Tần mới được cung cấp, phát động cuộc tiến công mới, giết quân trưởng của người Tây Âu. Cho nên người Việt đều trốn vào giữa rừng rậm, không chịu làm tù binh của quân Tần, sau đó lại phát động đánh úp buổi đêm, đánh bại quân Tần, còn giết được chủ tướng của quân Tần là Đồ Thư. Rất rõ ràng, "Hoài Nam Tử" chép cuộc chiến của quân đường phía tây đánh nước Tây Âu, vị Đồ Thư này chỉ là chủ tướng của quân đường phía tây, và cuộc chiến của quân đường phía tây phát sinh tại trong nước Tây Âu tức một dải Ngô Châu, Quý Cảng ngày nay là nơi cư trú của người Tây Âu, sau đó nhà Tần đặt thành thủ phủ của quận Quế Lâm tức Quý Cảng ngày nay. Dựa vào ghi chép này có thể suy đoán, quân đường phía tây lúc đầu tiến công còn có thuận lợi, rất nhanh chóng vào Tây Âu chiếm được đất trọng yếu, nhưng tại đây gặp phải rắc rối, sa lầy vào tình trạng tiến thoái đều khó. Điều này cũng chứng minh người Tây Âu trong Bách Việt chiến đấu rất mạnh mẽ, tiến công Bách Việt chủ yếu bị Tây Âu cản trở. Cho nên "Hoài Nam Tử" ghi chép cuộc chiến của quân đường phía tây tại Tây Âu rất gian khổ không dễ qua bằng quân đường phía đông và quân đường giữa. Ngoài ra, đối với cuộc chiến Tây Âu lại có một tính chất then chốt, Tây Âu một khi đã bình định, thì cuộc chiến Bách Việt mới có kết quả cuối cùng.


    Tác dụng của đường cung cấp Tương - Li

    Cái này chúng ta biết được Giám ngự sử Lộc là tướng lĩnh chỉ huy hậu cần của quân đường phía tây, ông ta đào kênh Linh Cừ liên thông sông Tương - sông Li chủ yếu là một con đường cung cấp lương thực mới, và không phải con đường phát động tiến công Tây Âu của quân đường phía tây, cho nên sách sử chỉ nói ông ta "đào kênh thông đường vận lương". Ông ta đào con đường vận lương mới này chủ yếu là cung cấp cho quân đường phía tây tại Tây Âu, không nói là cho quân đường phía đông, tức là quân đường giữa tại Phiên Ngu cũng không cần cung cấp gần cầu xa từ đường sông Tương - Li đến. Quân Tần của bốn đường đều có chủ tướng, tự lực chiến đấu, đều có con đường cung cấp hậu cần. Chúng ta đều cho rằng vị Giám ngự sử Lộc này dùng dân công đến đào kênh Linh Cừ, nhưng bấy giờ một dải miền Quế Bắc đất hoang người ít, tôi nghĩ đem dân công đều không thể đến được, vị Giám ngự sử Lộc này đem quân lính hậu cần của quân đường phía tây đến mà đào kênh Linh Cừ, cho nên sách sử nói "đem quân đào kênh". Nói một cách dễ dàng ngày nay vẫn còn dấu vết là Tần Thành thuộc huyện Hưng An. Tôi tán đồng thành này trước mắt không xác định được là thành thời Tần hay là thành thời Hán, vì trước thời Đường gọi là Việt Thành (có quan hệ với Nam Việt Vương đầu thời Tây Hán), đến thời Tống mới gọi là Tần Thành. Nhưng không ít tên gọi đều có quan hệ với việc đào kênh Linh Cừ của Giám ngự sử Lộc. Đến như tính chất của Tần Thành là chỗ canh phòng trú quân, trải qua đến nay không đổi. Chung tôi phát hiện dấu tích Tần Thành chia thành hai doanh lớn nhỏ mà không phải là thành phố được quy hoạch hoàn thiện có thể chứng minh điều này. Lại nói đến Nghiêm Quan thuộc huyện Hưng An, thời Tần chỉ mở ra đường sông Tương - Li, không có đường bộ, cho nên kiến trúc của Nghiêm Quan thuộc huyện Hưng An không có quan hệ với việc quân Tần xuống phía nam đánh Bách Việt. Tường thành của Tần Thành đều là đắp đất nện mà thành, trong huyện Phú Xuyên ngày nay phát hiện dấu vết "đường cũ Tiêu Hạ" ở cửa Tạ Mộc thời Tần, vách cửa này cũng làm bằng đất nện. Đến sáu trăm năm sau, năm Vũ Đức thứ tư (năm 614) thời Đường Thái Tông, Đại Tướng quân Lí Tĩnh bình định Lĩnh Nam đắp thành huyện Lâm Nguyên tức huyện Hưng An ngày nay, tường thành đều làm bằng đất nện. Mà Nghiêm Quan đều dùng đá xanh mà xây thành, đánh giá là thành thời Tống xây.


    Thời gian tiến công và binh lực của quân Tần

    Binh lực tiến công Bách Việt của quân Tần, "Hoài Nam Tử" nói là có năm mươi vạn quân, học giả xưa nay đều nói là năm mươi vạn quân. Xem tiếp "Hoài Nam Tử" lại nói người Tây Âu đánh úp buổi đêm khiến cho quân Tần "thây phơi máu chảy mấy chục vạn người", chỗ này nói là số thiệt hại của tất cả quân Tần của năm đường khi đánh Bách Việt tại Tây Âu, cái này rõ ràng không thể tin nhau. Gần đây có mấy vị sử gia suy đoán, bấy giờ Nam Việt, Tây Âu còn là bộ tộc, nhân khẩu rất ít, đều có binh lực một, hai vạn quân, cánh quân đường giữa, quân đường phía tây của quân Tần đều có ba, bốn vạn quân là đủ rồi. Sách sử ghi chép rằng sau đó tướng lĩnh đánh Nam Việt là Hiệu úy Triệu Đà xin với Tần Thủy Hoàng cho phát va vạn người con gái chưa lấy chồng đến Nam Việt, Tần Thủy Hoàng chỉ cho một vạn năm nghìn người, có thể dựa vào đấy mà suy đoán, tôi cho rằng suy đoán này gần với sự thật lịch sử.

    "Sử kí" không ghi chép thời gian đánh Bách Việt, chỉ có chép thời gian bình định Bách Việt tại Lĩnh Nam lập thành quận Nam Hải, quận Quế Lâm, quận Tượng là năm thứ ba mươi ba thời Tần Thủy Hoàng, gần đây có không ít sử gia nghiêng về năm thứ hai mươi tám thời Tần Thủy Hoàng là năm phát động tiến công. Dưới đây có trình bày một lượt thời gian đánh Bách Việt: Năm thứ hai mươi sáu, Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước; năm thứ hai mươi bảy, chuẩn bị trước lúc tiến công; năm thứ hai mươi tám phát động tiến công; năm thứ hai mươi chín, cánh quân phía đông và cánh quân đường giữa đánh chiếm Mân Việt, Đông Âu và Nam Việt thuận lợi nhưng cánh quân đường phía tây tại Tây Âu gặp phải rắc rối; năm thứ ba mươi, Giám ngự sử Lộc đến vùng đất đầu nguồn sông Tương - sông Li khảo sát, chọn đất, quy hoạch; năm thứ ba mươi mốt, bắt đầu đào kênh Linh Cừ, đắp Tần Thành đến năm thứ ba mươi hai thì xong, sau khi cánh quân phía tây được cấp hậu cần, tại năm đó phát động cuộc tiến công mới, giết quân trưởng Tây Âu, sau đó người Tây Âu lại buổi đêm đánh úp giết chủ tướng của cánh quân phía tây là Đồ Thư, như thế cuộc chiến kèn cựa đến năm thứ ba mươi ba Tần Thủy Hoàng sai viện quân đến rồi mới không chế được cục diện, lập thành ba quận, như thế thời gian quân Tần bình định Bách Việt là năm năm.


    Chính sách hòa tập của Tần Thủy Hoàng

    Quân Tần cuối cùng khống chế nước Tây Âu và bình định Bách Việt như thế nào? Chúng ta xem cuối câu ghi chép của "Hoài Nam Tử" rằng "bèn phát lính thú để phòng bị", có thể thấy quân Tần tuy hao binh tổn tướng, nhưng chỉ là thất bại một phần bị người Tây Âu đánh úp, nhà sử học nổi tiếng Lữ Trung Miễn tiên sinh cho rằng quân Tần chỉ là "thua nhỏ" mà thôi, quân Tần vẫn chiếm được các chỗ trọng yếu của nước Tây Âu, khống chế một cục diện đầy đủ, Tần Thủy Hoàng chú ý đến các nước Tây Âu, Nam Việt liền tăng thêm quân chủ yếu là tăng cường phòng bị. Quân lính lần này chủ yếu là từ đất Chiết Cống, Kinh Sở, họ cày bừa ở biên giới mà phòng bị, lại thêm Tần Thủy Hoàng sau đó di dân đến với số lượng lớn, ở lẫn lộn với người Việt, từ khi phát động cuộc chiến đến lúc nhà Tần mất là mười ba năm, những người lần này trở thành người xây dựng và mở mang đất Lĩnh Nam. Vấu khi bình định Bách Việt lập thành quận huyện, rất nhiều tướng lĩnh, quan lại xuống phía nam được tín nhiệm làm quan lại hành chính của vùng đất này. Tần Thủy Hoàng dùng chính sách hòa tập, là vì ông ta dùng thời gian để thay đổi gian rộng lớn của Lĩnh Nam. Cho nên tỉnh Quảng Tây ngày nay có rất nhiều dòng dõi của người Kinh Sở, Chiết Cống. Lĩnh Nam từ thời Tần về sau đã là vùng đất trải qua sự hòa trộn dân tộc nam - bắc.


    http://blog.sina.com.cn/s/blog_4e495cc40100grje.html

  7. #7
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Nhị Trưng khởi nghĩa và Mã Viện bình Giao Chỉ


    Năm Kiến Vũ thứ mười sáu (năm 40 Công nguyên) thời Quang Vũ Đế nhà Đông Hán, vùng Giao Chỉ đã phát sinh việc "Nhị Trưng khởi nghĩa", phong Mã Viện làm "Phục ba Tướng quân" đến bình định. Dùng gần 3 năm mới bình định xong cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng, theo sau đó là tiến hành một số cải cách đối với Giao Chỉ, xúc tiến cởi bỏ xã hội thị tộc nguyên thủy ở Việt Nam. Phải nói là, Mã Viện đánh Giao Chỉ là chính sách đúng đắn của nhà Đông Hán đối với các quận nội thuộc, xúc tiến quá trình phong kiến hóa vùng Giao Chỉ, là phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử, nhưng tại Việt Nam có một số học giả đề cao Nhị Trưng là anh hùng, đối với vấn đề này, còn có giải thích khác.


    Một, tình trạng xã hội Việt Nam trước cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng

    Tây Hán mới lập, người thống trị làm theo chính sách "thanh tịnh vô vi", "nghỉ ngơi với dân", không muốn đem quân chinh phạt phương xa, biện pháp này bao trùm cả chính quyền Nam Việt. Năm 196 trước Công nguyên, Triệu Đà được phong làm Nam Việt Vương, Nam Việt trở thành nước phiên thuộc của nhà Tây Hán, tình trạng này kéo dài đến hơn 90 năm. Đến thời Hán Vũ Đế, để củng cố chính quyền, Hung Nô phía bắc bị đánh bại và các vương chư hầu bị tiêu trừ, nhà nước Tây Hán cũng dùng sức mạnh quân sự đối với Nam Việt. Sự phản loạn của Lữ Gia trở thành cái cớ tốt nhất của Hán Vũ Đế.

    Năm 111 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế sai Lộ Bác Đức và Dương Bộc đánh họ Triệu, bình định nước Nam Việt, đặt thành bộ Giao Chỉ, chia thành 9 quận. (1) Từ đó, nước Nam Việt chính thức nhập vào bản đồ Trung Quốc, mở đầu thời kì bắc thuộc hơn 1000 năm của Việt Nam.

    Hán Vũ Đế bình Nam Việt, đem nước này chia thành bảy quận là Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, thêm quận Đam Nhĩ, Châu Nhai cả thảy là chín quận. Hán Vũ Đế từng đặt quận Nhật Nam, nói rõ tỉ mỉ sự thông trị của nhà nước phong kiến trung ương Trung Quốc đối với vùng này, phát triển ổn định chế độ phong kiến quận huyện. Trong các quận đặt chức Thái thú trông coi công việc trong quận, lại đặt chức Thứ sử coi xét các quận. Chỉ là tại giữa quận Giao Chỉ vẫn giữ lại chế độ Lạc hầu, Lạc tướng, để cho họ nắm giữ quyền thống trị bộ lạc. (2) Đối với các "quận mới" là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam này, nhà Hán chọn chính sách thống trị lỏng lẻo. Chính sách này là "dùng phong tục của họ mà thống trị", đối với kinh tế cũng không thu thuế. Giữa thời Tây Hán, Đông Hán, có hai vị quan lại thống trị Giao Chỉ, Cửu Chân có hiệu quả. Thời Hán Bình Đế cuối thời Tây Hán, Tích Quang nhậm chức Giao Chỉ Thái thú, ông ta hết sức cho sự nghiệp khai hóa, dạy dẫn theo lễ nghi. Đầu năm Kiến Vũ thời Quang Vũ Đế nhà Đông Hán, Nhậm Diên nhậm chức Cửu Chân Thái thú, "Nhậm Diên dạy dân cày bừa bằng trâu, mở rộng ruộng đất, ở lại không lâu, nhưng trăm họ trong quận được sung túc. Nhậm Diên lại dạy dân lễ nghi cưới hỏi, các trưởng lại trong quận đều giảm bớt bổng lộc để giúp cho người không đủ lễ vật cưới hỏi". (3) Tích Quang, Nhậm Diên "dạy dân trồng trọt, làm ra giày, mũ, đặt ra phép cưới hỏi, dân mới biết phép hôn phối, dựng nên trường học, dạy dân theo lễ nghi", (4) có cống hiến đối với sự phát triển kinh tế và du nhập văn hóa phong kiến của đất này, được người dân yêu mến. Theo đó phát triển thêm vùng Giao Châu, và giao lưu với vùng Trung Nguyên cũng ngày càng nhiều, người Trung Nguyên dời đến cũng không ngừng tăng thêm. "Sau dời tội nhân của Trung Quốc đến, sai ở lẫn giữa đất ấy, mới dần dần biết ngôn ngữ, dần theo lễ hóa". Một số người dời đến này, không chỉ mang theo kĩ thuật sản xuất của vung Trung Nguyên, mà còn mang theo quan hệ sản xuất phong kiến và văn hóa phong kiến đến. Họ trở thành lực lượng chủ yếu phát động sự phong kiến hóa đối với vùng đất Giao Chỉ.


    Hai, cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng

    Sau khi Tích Quang, Nhậm Diêm rời chức vụ thì đến lúc Tô Định nhậm chức Giao Chỉ Thái thú, vào năm Kiến Vũ thứ mười sáu (năm 40 Công nguyên), tại Giao Chỉ phát sinh cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng.

    Đối với tình huống khởi nghĩa của Nhị Trưng, sử sách có ghi chép:

    "Đến năm thứ mười sáu, người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị phản, đánh quận. Trưng Trắc là con gái của Lạc tướng huyện Mi Linh, lấy chồng là người huyện Chu Diên tên là Thi Sách, rất hùng dũng. Giao Chỉ Thái thú Tô Định lấy hình pháp ép buộc, Trắc giận, cho nên phản. Do đó người Man Lí của các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều theo Trưng Trắc, chiếm hết sáu mươi lăm thành, tự lập làm vương. Giao Chỉ Thứ sử và các Thái thú chỉ tự giữ lấy mình". (6)

    "Lĩnh Nam chích quái" chép: "Xét sử ghi chép, Nhị Trưng phu nhân họ Lạc, tên húy là Trắc, em gái tên là Nhị, người huyện Mi Linh, Phong Châu, con gái của Lạc tướng Giao Châu. Trắc lấy chồng làm vợ của người huyện Chu Diên là Thi Sách, rất hùng dũng mưu lược, có thể quyết đoán quyền biến. Bấy giờ Giao Châu Thứ sử Tô Định tham bạo hiếu sát, người trong châu khổ sở. Trắc giận Định giết chồng mình, bèn cùng em gái khởi binh đánh Định, hãm Giao Châu, do đó các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều theo Trắc, chiếm được sáu mươi lăm thành đất Lĩnh Nam, tự lập làm vương, mới đổi họ Trưng vậy". (7)

    "Thủy kinh chú" (quyển ba mươi bảy) dẫn "Giao Châu ngoại vực kí" viết: "Sau có con trai của Lạc tướng Chu Diên tên là Thi, hỏi con gái Lạc tướng Mi Linh tên là Trắc làm vợ, Trắc là người có đảm dũng, cùng Thi làm loạn, đánh phá châu quận, chinh phục các Lạc tướng, đều thần phục Trưng Trắc, làm Vương, trị ở huyện Mi Linh, tha thuế dân hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân được hai năm". (8)

    "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" viết: "Năm canh tí... tháng hai, mùa xuân, người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc khởi binh đánh Thái thú Tô Định, tự lập làm Vương... Thái thú Tô Định làm việc tham bạo, giết chồng Trắc, mới cùng em gái là Nhị dấy binh đánh hãm trị sở của châu". (9)

    Từ ghi chép trên có thế thấy, nguyên nhân khởi nghĩa là vì trả thù mất chồng, hoặc là vì Tô Định lấn ép. Chỉ là nguyên nhân tiêu biểu của cuộc khởi nghĩa Nhị Trưng, đều không nói rõ được nguyên nhân sâu xa của cuộc khởi nghĩa.

    Kì thực, nguyên nhân sâu xa phát sinh của cuộc khởi nghĩa này là có quan hệ với chính sách thống trị của nhà Hán đối với quận Giao Chỉ.

    Đầu thời Hán, vì vùng Giao Chỉ ở nơi xa xôi, còn trong giai đoạn xã hội bộ lạc nguyên thủy vươn lên xã hội có giai cấp, phát triển sản xuất ở mức thấp, tổ chức hành chính cũng rất lỏng lẻo. Do đó, nhà Tây Hán chỉ sai các Thái thú quản lí các quận, dưới quận là các huyện thì do các Lạc hầu, Lạc tướng quản lí. "Giao Chỉ xưa chưa có quận huyện, đất đai có ruộng Lạc, ruộng này theo nước thủy triều lên xuống, dân làm ruộng này mà ăn, do đó có tên là dân Lạc. Đặt Lạc Vương, Lạc hầu làm chủ các quận huyện. Ở huyện phần nhiều là Lạc tướng, Lạc tướng đeo ấn đồng dải xanh. Sau con của Thục Vương đem ba vạn quân đến đánh Lạc Vương, Lạc hầu, chinh phục các Lạc tướng, con của Thục Vương nhân đó xưng là An Dương Vương. Sau lại có Nam Việt Vương Úy Đà đem quân đánh An Dương Vương". (10) Tình trạng lúc này chỉ là một mặt, Thái thú của các quận do chính quyền trung ương sai đến, họ thống trị theo phương thức phong kiến, cùng ra sức đem chế độ phong kiến đến các huyện của Giao Chỉ; ngoài ra có một mặt nữa, quyền lực ở cấp huyện vẫn do chủ nô lệ là Lạc tướng nắm giữ, họ vẫn quản lí theo chế độ nô lệ, vẫn giữ gìn chế độ lạc hậu này. Thêm nữa, chính quyền Đông Hán tăng thêm tiêu trừ và thống trị đối với người dân của vùng Giao Châu, giữa Thái thú và huyện lệnh là đại diện cho giai cấp địa chủ phong kiến nhà Đông Hán và quý tộc chủ lệ nô Giao Chỉ phát sinh mâu thuẫn không thể hòa giải.

    Biểu hiện chủ yếu của mâu thuẫn này có hai điểm: Một, truyền bá lễ nghi phong kiến, phát triển sự nghiệp khai hóa. Cái này liên quan đến phong tục cũ của vùng Giao Chỉ, uy hiếp đến đến cơ cấu Lạc tướng của vùng Giao Chỉ; hai, thời Đông Hán, các quận Giao Chỉ đã trải qua thời "quận mới", nhà nước Đông Hán bắt đầu thi hành "thu thuế", điều này tăng thêm gánh nặng của người dân. Thêm nữa trong quá trình dời dân đến thì chủ đất người Hán và người bản địa dựa vào chính quyền ngoại tộc cướp đoạt ruộng đất công xã, khiến cho dân Lạc biến thành nông nô, dẫn đến cuộc chống đối của người dân.


    Chú thích:

    (1), (2), (3) [Việt] Trần Trọng Kim, Đái Khả Lai dịch, Việt Nam thông sử. Bắc Kinh: Thương vụ ấn thư quán 1987, trang thứ 28

    (4), (5), (6) Hậu Hán thư (quyển tám mươi sáu), Nam Man Tây Nam Di liệt truyện

    (7), (9) [Việt] Đào Duy Anh, Lưu Thống Văn, Tử Việt dịch, Lịch sử cổ đại Việt Nam. Bắc Kinh: Thương vụ ấn thư quán 1976, trang thứ 486, trang thứ 487

    (8), (10) Thủy kinh chú (quyển thứ ba mươi bảy) Yêm thủy, Diệp Du thủy, Di thủy, Du thủy, Lễ thủy, Nguyên thủy, Ngân thủy


    http://blog.huanqiu.com/?uid-47344-a...-itemid-339705

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    149
    Nhị Trưng khởi nghĩa và Mã Viện bình Giao Chỉ


    Ba, Mã Viện bình định Giao Chỉ và đối với cuộc cải cách của Giao Chỉ

    Năm Kiến Vũ thứ mười sáu (năm 40 Công nguyên) thời Quang Vũ Đế nhà Đông Hán, phát sinh cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng, "người Man Lí đều theo", chiếm hết sáu mươi lăm thành, "Giao Chỉ Thứ sử và các Thái thú chỉ tự giữ lấy mình", chính quyền châu quận của nhà Đông Hán bị đánh phá nặng nề. Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, Nhị Trưng giảm nhẹ gánh nặng cho người dân Giao Chỉ, Cửu Chân, để lấy sự ủng hộ của người dân.

    Nhà Đông Hán chưa phát binh ngay, năm Kiến Vũ thứ mười tám (năm 42 Công nguyên), Mã Viện được phong làm Phục ba Tướng quân đánh Nhị Trưng. Trải qua cuộc chiến Cấm Khê, bắt được Nhị Trưng, cơ bản trấn áp xong cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng. Sau khi Mã Viện bình định xong quận Giao Chỉ, tiếp tục đuổi đánh dư đảng của Nhị Trưng tại quận Cửu Chân. Năm Kiến Vũ thứ bốn mươi hai, Mã Viện thắng lợi rút quân về.

    Mã Viện trong quá trình bình định cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng, "chỗ mà Viện đi qua liền lập nên quận huyện, sửa thành quách, đào kênh dẫn nước để làm lợi cho dân, tấu lên luật Việt khác luật Hán hơn mười điều, cùng người Việt làm rõ chế độ cũ để ép buộc". Có thể thấy, Mã Viện không chỉ bình định cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng, mà còn thi hành một loạt chính sách, cũng có tác dụng rất lớn đối với việc xây dựng lại Giao Chỉ sau cuộc chiến.

    Thứ nhất, phế bỏ chế độ Lạc tướng, đem chế độ quận huyện bước lên cấp huyện. Mã Viện sau khi chinh phục quận Cửu Chân, lại "dời hơn ba trăm cừ súy đến ở quận Linh Lăng. Do đó miền Lĩnh Biểu bình xong". Quý tộc chủ nô lệ là Lạc hầu, Lạc tướng bị trấn áp, biến đổi tình trạng Lạc tướng nắm giữ các huyện. "Đều bình định quận huyện lập nên Lệnh trưởng" tăng thêm quyền quản lí, còn đem một số huyện lớn chia thành mấy huyện nhỏ. Sau khi Mã Viện sau khi chiếm được các thành ấp, cũng sửa thành quách để đặt quân lính đồn trú và bên Giao Chỉ đặt ra quận huyện. Chế độ Lạc tướng thế tập tại cấp huyện bị phế bỏ. Triều đình phong kiến phương bắc sai quan lại đến quản lí các huyện (tính ra Giao Châu từ tỉnh Quảng Nam đến miền bắc cả thảy có ba quận, năm mươi sáu huyện). Cuộc sửa trị của Mã Viện đã dẫn đến sự phát triển chế độ quận huyện của vùng Giao Chỉ, Cửu Chân.

    Thứ hai, phế bỏ pháp luật của chế độ nô lệ, thi hành hình pháp phong kiến. Tại vùng Giao Chỉ lưu hành chế độ nô lệ, lúc giải quyết xung đột của thành viên làng xã, tập quán này thường có tác dụng lo lớn. Mã Viện "tấu lên luật Việt khác luật Hán hơn mười điều, cùng người Việt làm rõ chế độ cũ để ép buộc, từ đó về sau người Lạc Việt làm theo việc cũ của Mã Tướng quân". Mã Viện phế bỏ tập quán cũ này, thay nó là chế độ luật pháp phong kiến, dùng hình thức chế độ, luật pháp để phong kiến hóa vùng Giao Chỉ.

    Tóm lại, phát sinh cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng có nguyên nhân sâu xa của cuộc phát triển xã hội vùng Giao Chỉ. Cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng không phải là cuộc khởi nghĩa nhân dân chân chính, mà là cuộc phản loạn vũ trang của quý tộc chủ nô lệ bản địa phản đối chính sách phong kiến hóa của nhà Đông Hán. Chính quyền mà họ lập nên chỉ là giữ gìn chế Lạc tướng của họ, tránh cho lợi ích của quý tộc chủ nô lệ bản địa bị tổn hại, ảnh hưởng của họ cũng chỉ giới hạn ở vùng đất mà các Lạc tướng khống chế là vùng Giao Chỉ, Cửu Chân. Bản chất của nó là giữ gìn chế độ nô lệ lạc hậu, chống lại chính sách phong kiến hóa, phản lại xu hướng phát triển của lịch sử. Cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng là biểu hiện của sự phát triển ý thức của dân tộc Việt Nam, "cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng đánh thức tinh thần một dân tộc". Từ đó Việt Nam bắt đầu tìm phương thức độc lập của dân tộc.

    Mã Viện bình định Giao Chỉ, không chỉ chỉ là tiêu diệt cuộc khởi nghĩa, mà còn mang theo quan hệ sản xuất phong kiến của ông ta trong đó, thay đổi quan hệ sản xuất của chế độ nô lệ, "sau cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng, chế độ Lạc tướng tuyên bố kết thúc, cũng tuyên bố sự kết thúc của chế độ chiếm hữu nô lệ gia trưởng", lịch sử xã hội của vùng Giao Chỉ tiến lên giai đoạn lịch sử xã hội phong kiến. Nhà sử học Việt Nam là Đào Duy Anh đề xuất nói: "(Nhị Trưng) khởi nghĩa tuy thất bại, nhưng là kết quả khách quan, khiến kẻ thống trị ngoại tộc không thể không phát triển chế độ quận huyện, lại làm quan hệ sản xuất phong kiến khắc sâu thêm. Do đó, xã hội Âu Lạc bắt đầu tiến vào giai đoạn mới thuộc phạm vi chế độ phong kiến". Mã Viện thuận theo dòng chảy phát triển của lịch sử, có cống hiến đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam, quá trình phong kiến hóa của xã hội Việt Nam cũng cơ bản hoàn thành.


    http://blog.huanqiu.com/?uid-47344-a...-itemid-339705

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •