Kết quả 1 đến 3 của 3
  1. #1
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    0

    Cải cách đầu Hậu Lê

    Nhân việc cải cách HQL mới nhận thấy những người quy tội ngu si cho HQL dường như có xu hướng đòi 1 ông vua phong kiến phải có tinh thần tam dân bình đẳng như Tôn Trung Sơn, phải đứng giữa Hàn Lâm Viện đọc bản tuyên ngôn mọi người bình đẳng như Hồ Chủ Tịch, phải biết tự lập ra học thuyết tầm cỡ Mác,...

    Tôi lập topic này để thảo luận về những cải cách phục hồi đất nước của nhà Hậu Lê, nhân đó bàn về những hiệu quả tích cực của nó trong việc khôi phục đất nước, qua đó làm rõ hơn những hơn kém , hạn chế của cải cách nhà Hồ. Cần nói thêm, cải cách khôi phục hầu hết được thực hiện đàng hoàng, bài bản, chính thức dưới thời Thánh Tông Lê Tư Thành, tức sớm nhất cũng là năm 1460, 30 năm sau khi giành độc lập, còn rề rà hơn lão già HQL lo tiếm quyền mà "chậm chạp" ban hành chính sách nhiều.

    Những cái in nghiêng là cái nhà Hồ ko có. Cái nào ko ghi chữ LTT nghĩa là được ban hành trước thời LTT.

    Văn Hóa:


    - ban chiếu cầu hiền.
    - tổ chức khảo hạch, quan dở thì sa thải
    - Tổ chức thi tuyển quan lại, theo lệ thị Hương thi Hội 3 năm 1 lần , cũng có thi toán, viết chữ, ngoài thi Tứ Thư, Ngũ Kinh có làm bài văn sách để trình bày những đề xuất chính trị như nhà Hồ. Nhưng thực tế đến Lê Thánh Tông mới theo được lệ 3 năm 1 lần, 2 đời Thái Tông, Nhân Tông tận 6 năm mới thi 1 lần.
    - khuyến khích thi cử bằng lệ xướng danh, treo bảng, ban phẩm tước, mũ áo, vinh quy bái tổ. ( nhà Hồ thì bằng biện pháp cấp ruộng đất cho nhà học để trợ cấp học hành)
    Tôn giáo:

    - Lê Lợi bắt trên 50 tuổi, thông hiểu kinh phật, đỗ đạt kỳ khảo hạch mới cho làm sư. Còn lại hoàn tục tất.
    - Cấm xây chùa mới.
    - Sư ăn thịt uống rượu thì phải hoàn tục. Sư dâm ô thì đày đi xa
    - Dựa vào nhà Nho - Tống Nho ( nhà Hồ dựa vào Chu Công)
    Văn hóa:

    - bên cạnh tác phẩm chữ Hán, ngày càng nhiều tác phẩm chữ Nôm
    Công THương Nghiệp: Nói chung khoản này nhà Hồ ko được gì cả ngoài đánh thuế. Hậu Lê vượt trội hoàn toàn mặt này.

    - Những làng nghề xuất hiện ngày càng nhiều
    - Lập cục Bách tác chuyên đúng tiền, vũ khí, thuyền, đồ dùng cho vua quan,... Thợ chủ yếu tuyển theo chế độ lao dịch.
    - Công thương nghiệp phục hồi và mở rộng. 1447, nhà nước lệnh " nơi nào muốn chia mở chợ mới để buôn bán thì quan phủ, huyện, châu khám xét, thấy thực tiện lợi thì làm bản tâu, cho họp chợ..."
    - quay lại chế độ tiền đồng, 1 quan = 10 tiền, 1 tiền = 60 đồng.
    - Ban đầu vì sợ dân hội họp về Thăng Long buôn bán ngày càng nhiều nên ra lệnh đuổi hết về quê, đến năm 1481, Quách Đình Bảo tâu xin chỉ đuổi những vô lại tạp cư, còn lại cho phép dân cư buôn bán. Lê Thánh Tông chấp nhận.

    2 mảnh XH và KT, nguyên nhân thất bại của nhà Hồ và là mấu chốt quan trọng nhất, tôi tách ra làm 1 bài khác.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Để em làm tiếp cho [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]
    Về mảng Kinh tế (Nông nghiệp là chính)

    Chính sách quân điền
    Lộc điền
    Chăm chút đê điều (Cái này không thấy đề cập thời Hồ nên tạm cho là thời Hồ không có)
    khuyến nông
    Mảng XH. In đậm là nhà Hồ có mà Lê không có(hoặc không thấy đề cập)

    Bỏ tiền giấy. Xài tiền đồng như trước(thời Lê)
    Đánh thuế chỉ nhằm vào người có ruộng
    Đặt Quảng tế thự (bệnh viện)
    Hạn chế sở hữu nô tì.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    2
    Phần này ko thể theo nguyên tắc in nghiêng như trên nữa.

    Xã hội:

    - 2 tầng lớp chính: địa chủ ( công thần, quan lại, chủ đất) và nông dân ( nông dân tư hữu, tá điền, nông nô). Về sau, tầng lớp địa chủ thườn sẽ phát triển mạnh.
    - lệnh hạn chế việc biến dân thành nô lệ, rất khắt nghiệt ( bắt 1 người thì bị biếm 3 tư, nếu là quan nhất/ nhị phẩm thì phạt 100 quan, cứ bắt 3 người thì tăng 1 bậc. Tội cao nhất là biếm 5 tư, phạt 500 quan.
    ----> do nô lệ bỏ trốn và lệnh hạn chế, tầng lớp nô lệ dần biến mất trong các thế kỷ sau.
    - Cho phép làng trên 500 hộ có thể tách ra lập làng mới.
    Nông nghiệp:

    - cho 25/ 30 vạn quân về làm ruộng.
    - gọi dân phiêu tán về quê cũ.
    - Thuế đinh: 8 tiền - 1,2 quan/ năm ( khác nhà Hồ tính thuế đinh theo số ruộng sở hữu được, trên 2,6 mẫu thì thu 3 quan)
    - Thuế ruộng:
    * thượng đẳng: 60 thăng thóc + 6 tiền/ mẫu
    * trung đẳng: 40 thăng thóc + 4 tiền/ mẫu
    * hạ đẳng: 20 thăng thóc + 3 tiền/ mẫu
    ( Xét về số thóc nộp thì tăng rất nhiều so với nhà Hồ, nhưng số tiền nộp thì ngược lại, giảm rất nhiều)
    - nông dân nghèo không ruộng, cho phép đi khai hoang. Đất khai phá được, 1 phần làm ruộng công nộp thuế, 1 phần làm ruộng tư ( ban đầu lúc mới ban chính sách này thì ruộng tư chưa đánh thuế). Đốc thúc, khuyến khích dân khai phá hết ruộng đất bỏ hóa, giúp dân diệt sâu cắn lúa nếu có. Năm 1481, Thánh tông lập 43 sở đồn điền ( hết 30 sở ở miền Bắc, 5 ở Thanh Hóa, 4 ở Nghệ An, 2 ở Thuận Hóa, 2 ở Quảng Nam). Cách chánh, phó đồn điều phụ trách mộ dân nghèo không ruộng đất đây khai hoang, chia ruộng cày cấy.
    - chăm lo đê điều, nạo vét sông ngòi.
    - làm sổ ruộng để thống kê ruộng đất.
    - Mọi công trình xây dựng phải tránh thời gian vụ mùa.
    - Cấm giết trâu bò.
    - Cơ cấu ruộng:
    * Ruộng công nhà nước: tất cả ruộng tịch thu từ ngụy quan và chính quyền đô hộ, ruộng vô chủ. Ruộng này do tội đồ cày hoặc phát cho các quan để phát canh cho nông dân.
    * Ruộng công thần, quan lại: Vua Lê phong thưởng cho công thần tổng cộng 221 người. Ngoài tước hiệu, mỗi người được từ 300 - 500 mẫu ( thực tế nhiều người lên đến 1000 mẫu). Đến Lê Thánh Tông ban hành chế độ lộc điền, quy định mỗi chức tước được cấp 1 số lượng ruộng nhất định.
    * Ruộng đồn điền: nhà nước tổ chức khai hoang lập nên. Nông dân cày chủ yếu là tù tội, dân nghèo phiêu tán. Loại này đến sau 1481, Lê Thánh Tông mới thành lập ( vụ 43 sở đồn điền)
    * Ruộng công làng xã: ruộng từ xưa, mỗi làng tỉ lệ khác nhau. Lê Lợi đặt vấn đề chia ruộng này cho lính và dân nghèo ít hoặc không ruộng. Sau, Lê Thánh Tông ra lệnh ruộng này cứ 6 nay chia lại 1 lần cho các thành viên trong xã theo thứ tự: 11,10 cho quan Tam, Tứ phẩm chưa có ruộng lộc; Ngũ Phẩm được 9,5 phần; Lục phẩm: 9 phần; binh lính: 5 - 8,5 phần; người già: 3,5 phần; Mồ côi, tàn tật: 3 phần.
    * Ruộng tư: ruộng nông dân tư hữu, ruộng địa chủ, ruộng điền trang. Ruộng địa chủ, điền trang ngày càng tăng theo con số quan lại.
    - Người có đất bãi trồng dâu, có ruộng cấy lúa, nếu là quân thì cấp cho 5 sào ruộng cấy lúa, nếu là dân thì cấp cho 4 sào. Tất cả đều miễn thuế, trừ những người không vợ hoặc góa chồng. Phan Thiên Tước nói:
    "Người không vợ và góa chồng là hạng chính sách nhà vua thương đến. Nay ban ơn cho quân dân mà hạng đó không được dự, thế thì họ không phải là dân của [29b] vua ư?".
    Bọn Đại tư đồ Lê Sát nói:
    "Quân dân bỏ sức làm việc, đóng góp thuế khóa, còn hạng không vợ góa chồng kia cho nước được gì? Vả lại, khi còn Tiên đế, chưa từng giảm nhẹ cho ai thì ông im lặng không nói gì, mà nay đã định thành lệ rồi lại cứ nói mãi không thôi là làm sao?".
    Tước trả lời:
    "Khi còn Tiên đế, Tước này chưa được giữ chức trách nói năng, nay chức trách phải nói, cũng muốn thành điều hay cho nhà nước mà thôi, có phải mưu lợi riêng cho mình đâu?".
    Bấy giờ mới cho những người không vợ, góa chồng được miễn thuế tô 3 sào.
    rồi, xin mời so sánh.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •