Mãn Giác (滿覺), 1052-1096, là một thiền sư thuộc thiền phái Vô Ngôn thông, một trong 4 thiền phái lớn của Việt Nam, sống vào đời nhà Lý, đời vua Nhân Tông.

Mãn Giác tên thật là Nguyễn Trường, hiệu là Hoài Tín, vốn học rộng, tinh thông Phật pháp lại giỏi Hán học, là lãnh tụ pháp môn một đời nên được triều đình, được vua và hoàng hậu hết sức kính trọng.

Tương truyền, tháng 11 năm 1096, sư gọi chúng tăng đọc bài kệ Cáo tật thị chúng (có bệnh bảo mọi người).

Kệ rằng:
春去百花落
春到百花開
事逐眼前過
老從頭上來
莫謂春殘花落尽
庭前昨夜一枝梅

Dịch:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Thích Thanh Từ dịch thơ:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa nở
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua – sân trước – một cành mai.

Nói xong Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 45 tuổi. Sau lễ hoả táng, xá lợi được thờ tại chùa Sùng Nghiêm, vua thuỵ hiệu là Mãn Giác.

Cáo tật thị chúng trở thành một tác phẩm thi kệ nổi tiếng thời kỳ văn học Lý-Trần, một tuyên ngôn triết học ẩn ngữ dưới hình thức nghệ thuật văn chương. Bài thơ mượn cảnh thị tình, lấy tình "trực chỉ chân tâm" nhằm khai phóng nhân sinh.

Về bài thơ, tôi không muốn phân tích nhiều, chí có 2 câu thơ làm tôi vô cùng ấn tượng:


Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.



Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua – sân trước – một cành mai.

Đọc xong hai câu thơ cuối, ta có thể thấy mở ra trước mặt bao nhiêu cái mới, bao nhiêu niềm hi vọng, bao nhiêu ý chí, sức sống, nghị lực...Sự mất mát ẩn hiện và cả sự giải thoát, con đường thực sự. Những người quá bi quan đối với cuộc sống này, khi đọc hai câu thơ cuối, họ có thế sẽ nhẹ nhõm, thoải mái hơn, tìm được lối thoát, không còn quá bi quan, trở nên lạc quan với cuộc sống. Nó ẩn hàm sức sống mãnh liệt, cũng giống như tác phẩm "Chiếc lá cuối cùng" của O' Henri. Phải chăng ý nghĩa ẩn hàm của nó là "kết thúc không có nghĩa là hết, nó chỉ là một sự bắt đầu mới" chăng?

Bài kệ của Mãn Giác xứng đáng là một bài kệ xuất sắc trong thể loại kệ của Thiền phái, và nó cũng xứng đáng là một tác phẩm văn học đáng nhớ trong Lịch sử Việt Nam. Chính những dụng ý về nghệ thuật thêm vào đó là tư tưởng, triết lý của thiền phái Vô ngôn thông ẩn hàm sau hình ảnh rất chân thực đã làm nên giá trị vô cùng sâu sắc của bài kệ này.


Đạo hạnh của Mãn Giác, cao thâm quá!