Trang 2 của 7 Đầu tiênĐầu tiên 1234 ... CuốiCuối
Kết quả 11 đến 20 của 62
  1. #11
    Ngày tham gia
    Feb 2016
    Bài viết
    28
    Trích dẫn Gửi bởi imbuement
    Dân tộc Mãn còn (~10 triệu), nhưng Tiếng Mãn thì gần như tuyệt tích rồi.
    Ơ thế không phải ngôn ngữ Mandarin , hay tiếng quan thoại là ngôn ngữ từ Mãn Châu / Mãn Thanh à ?

    Nghe đâu tiếng Quảng , mới là ngôn ngữ thuần Trung Quốc nhất , xuất xứ từ nhà Minh ?

  2. #12
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Triều cống thì mới dc quyền buôn bán với Thiên triều, tiếp cận thị trường lớn nhất thế giới + vô số sản vật phong phú, ngoài ra còn dc buôn bán với các nước chu hầu khác. Vậy nên các nước ngoài trung nguyên tranh nhau triều cống.
    quan hệ triều cống thực chất là hiệp định thương mại và hệ thống triều cống của TQ là khu vực thương mại

    Trích dẫn Gửi bởi dunio
    Ơ thế không phải ngôn ngữ Mandarin , hay tiếng quan thoại là ngôn ngữ từ Mãn Châu / Mãn Thanh à ?

    Nghe đâu tiếng Quảng , mới là ngôn ngữ thuần Trung Quốc nhất , xuất xứ từ nhà Minh ?
    tiếng quan thoại là hậu duệ của tiếng Đường nhưng đã bị ảnh hưởng và biến đổi về mặt phát âm do thời gian các tộc ngữ hệ Altaic là Liêu, Nữ Chân, Mông, Mãn cai trị hoa bắc
    Tiếng Quảng và VN cũng hậu duệ tiếng Đường nhưng bảo lưu cách phát âm nguyên vẹn hơn

  3. #13
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Trích dẫn Gửi bởi Phần tử dân tộc cực hữu
    Triều cống thì mới dc quyền buôn bán với Thiên triều, tiếp cận thị trường lớn nhất thế giới + vô số sản vật phong phú, ngoài ra còn dc buôn bán với các nước chu hầu khác. Vậy nên các nước ngoài trung nguyên tranh nhau triều cống.
    quan hệ triều cống thực chất là hiệp định thương mại và hệ thống triều cống của TQ là khu vực thương mại



    tiếng quan thoại là hậu duệ của tiếng Đường nhưng đã bị ảnh hưởng và biến đổi về mặt phát âm do thời gian các tộc ngữ hệ Altaic là Liêu, Nữ Chân, Mông, Mãn cai trị hoa bắc
    Tiếng Quảng và VN cũng hậu duệ tiếng Đường nhưng bảo lưu cách phát âm nguyên vẹn hơn
    Ai chà! Cái nài còn mới hơn nữa haha hay vậy! Vậy sau khi triều cống như vậy thì trong sử sách có ghi về những cái lợi cụ thể như nào không?

  4. #14
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Hệ thống triều cống của các nước lân cận Trung Hoa được các triều đại Trung Hoa quy định khá rõ. Theo quy chế thì thường là ba năm triều cống một lần, tùy vào tình hình mà có thể thay đổi, chẳng hạn như cuối thời Mạc ở Việt Nam thì gộp cứ 2 kỳ cống lại làm một, tức cứ 6 năm mới phải triều cống một lần, cống phẩm cũng là gộp 2 kỳ làm một cho tiện. Số lượng sứ giả cũng được quy định, dù không chặt chẽ lắm; nên trừ những trường hợp đồ cống nặng và cồng kềnh đòi hỏi cần nhiều nhân lực (như Việt Nam thời Lý thỉnh thoảng có cống voi hay kỳ lân (?), thì lượng sứ giả thường không thay đổi nhiều.

    Về quy chế thì sứ bộ ngoại giao phải đến tỉnh biên giới, nộp sứ điệp cho quan trấn thủ tỉnh biên giới, quan trấn thủ biên giới sẽ có trách nhiệm hộ tống sứ bộ ngoại giao về đến kinh đô, nên không có chuyện sứ bộ đông người để tự bảo vệ an ninh. Chi phí tiếp đón dọc đường do quan địa phương chịu trách nhiệm. Nên nặng nề nhất là những khi sứ bộ đem theo nhiều đồ cống hiến, nhất là thú vật to lớn, công sức và chi phí chăm sóc rất lớn, để chết dọc đường thì rất phiền toái. Nên từ thời Tống có lệ là không nhận thú lạ trong đồ cống hiến.

    Những trường hợp sứ bộ quá đông, không tuân theo quy chế thì thường là do nước đó đang có uy thế với Trung Hoa, như Liêu Kim chẳng hạn. Đem theo nhiều người trong đoàn sứ bộ để buộc triều đình Trung Hoa phải đón tiếp, làm hao tốn của cải là một cách để tỏ uy thế ngoại giao. Còn ngoài ra thì mọi thứ trong vấn đề triều cống đều được quy định rất rõ, kể cả việc vua ban thưởng cho sứ bộ, nên rất ít có chuyện vua vung tiền thưởng quá tay cho sứ thần khiến ngân khố hao hụt. Những trường hợp như Càn Long ban thưởng rất hậu cho sứ bộ phương Tây tương đối hiếm, chủ yếu mang ý nghĩa chính trị và thường chỉ xảy ra trong lần gặp đầu tiên mà thôi.

    Cái lợi lớn nhất của triều cống là duy trì quan hệ ổn định với Trung Hoa, vì thường khi có nước nào bỏ cống thì bao giờ cũng có một phe trong triều đình Trung Hoa dâng sớ xin đánh, rất phiền toái. Mặc dù đồ cống thì chẳng đáng bao nhiêu. Lợi nữa là các sứ giả được phép trao đổi mua bán hàng hóa ở tận kinh đô, có nhiều đồ hiếm lạ quý giá, đặc biệt là sách vở. Vì ngoại thương thời xưa chủ yếu chỉ tập trung ở các tỉnh biên giới, đồ từ kinh đô đem ra trao đổi ở đây thường rất hiếm.

  5. #15
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    152
    Trích dẫn Gửi bởi Vô Vi
    Nên từ thời Tống có lệ là không nhận thú lạ trong đồ cống hiến.
    Vậy sao vua Quang Trung (giả) có thể cống đôi voi đực năm 1790?

  6. #16
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Trích dẫn Gửi bởi Muitenbac777
    Vậy sao vua Quang Trung (giả) có thể cống đôi voi đực năm 1790?
    thời tống mà , Quang Trung thì cống cho nhà Thanh. mà hơn nũa em nghĩ Voi thì bọn tàu cũng đau có lạ , hồi Hai Bà Trưng cũng cho bọn tàu xem voi rồi mà.

  7. #17
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    Trích dẫn Gửi bởi Phần tử dân tộc cực hữu
    Triều cống thì mới dc quyền buôn bán với Thiên triều, tiếp cận thị trường lớn nhất thế giới + vô số sản vật phong phú, ngoài ra còn dc buôn bán với các nước chu hầu khác. Vậy nên các nước ngoài trung nguyên tranh nhau triều cống.
    quan hệ triều cống thực chất là hiệp định thương mại và hệ thống triều cống của TQ là khu vực thương mại



    tiếng quan thoại là hậu duệ của tiếng Đường nhưng đã bị ảnh hưởng và biến đổi về mặt phát âm do thời gian các tộc ngữ hệ Altaic là Liêu, Nữ Chân, Mông, Mãn cai trị hoa bắc
    Tiếng Quảng và VN cũng hậu duệ tiếng Đường nhưng bảo lưu cách phát âm nguyên vẹn hơn
    sứ giả các nước đến trung quốc, gặp nhau trực tiếp còn bị cấm đào đâu ra buôn bán với nhau, hiệp định thương mại với chả trung tâm thương mại. phản lịch sử.

  8. #18
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Trích dẫn Gửi bởi Vô Vi
    Hệ thống triều cống của các nước lân cận Trung Hoa được các triều đại Trung Hoa quy định khá rõ. Theo quy chế thì thường là ba năm triều cống một lần, tùy vào tình hình mà có thể thay đổi, chẳng hạn như cuối thời Mạc ở Việt Nam thì gộp cứ 2 kỳ cống lại làm một, tức cứ 6 năm mới phải triều cống một lần, cống phẩm cũng là gộp 2 kỳ làm một cho tiện. Số lượng sứ giả cũng được quy định, dù không chặt chẽ lắm; nên trừ những trường hợp đồ cống nặng và cồng kềnh đòi hỏi cần nhiều nhân lực (như Việt Nam thời Lý thỉnh thoảng có cống voi hay kỳ lân (?), thì lượng sứ giả thường không thay đổi nhiều.

    Về quy chế thì sứ bộ ngoại giao phải đến tỉnh biên giới, nộp sứ điệp cho quan trấn thủ tỉnh biên giới, quan trấn thủ biên giới sẽ có trách nhiệm hộ tống sứ bộ ngoại giao về đến kinh đô, nên không có chuyện sứ bộ đông người để tự bảo vệ an ninh. Chi phí tiếp đón dọc đường do quan địa phương chịu trách nhiệm. Nên nặng nề nhất là những khi sứ bộ đem theo nhiều đồ cống hiến, nhất là thú vật to lớn, công sức và chi phí chăm sóc rất lớn, để chết dọc đường thì rất phiền toái. Nên từ thời Tống có lệ là không nhận thú lạ trong đồ cống hiến.

    Những trường hợp sứ bộ quá đông, không tuân theo quy chế thì thường là do nước đó đang có uy thế với Trung Hoa, như Liêu Kim chẳng hạn. Đem theo nhiều người trong đoàn sứ bộ để buộc triều đình Trung Hoa phải đón tiếp, làm hao tốn của cải là một cách để tỏ uy thế ngoại giao. Còn ngoài ra thì mọi thứ trong vấn đề triều cống đều được quy định rất rõ, kể cả việc vua ban thưởng cho sứ bộ, nên rất ít có chuyện vua vung tiền thưởng quá tay cho sứ thần khiến ngân khố hao hụt. Những trường hợp như Càn Long ban thưởng rất hậu cho sứ bộ phương Tây tương đối hiếm, chủ yếu mang ý nghĩa chính trị và thường chỉ xảy ra trong lần gặp đầu tiên mà thôi.

    Cái lợi lớn nhất của triều cống là duy trì quan hệ ổn định với Trung Hoa, vì thường khi có nước nào bỏ cống thì bao giờ cũng có một phe trong triều đình Trung Hoa dâng sớ xin đánh, rất phiền toái. Mặc dù đồ cống thì chẳng đáng bao nhiêu. Lợi nữa là các sứ giả được phép trao đổi mua bán hàng hóa ở tận kinh đô, có nhiều đồ hiếm lạ quý giá, đặc biệt là sách vở. Vì ngoại thương thời xưa chủ yếu chỉ tập trung ở các tỉnh biên giới, đồ từ kinh đô đem ra trao đổi ở đây thường rất hiếm.
    đến tận thời lê quý đôn đi sứ, về qua biên giới nó còn thu hết sách lại mà. tật diệt thông tin kiểu trung quốc có từ thời xưa chứ không phải bây giờ mới có bác ơi.

  9. #19
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    1
    Trường hợp cống voi của Quang Trung có thể được xem như một động thái phô trương uy thế sau chiến thắng quân sự Tết Kỷ Dậu. Quy chế triều cống của Việt Nam đối với Trung Hoa được bắt đầu từ thời Tống, nhưng chưa rõ ràng vì vị thế của Việt Nam với Tống thay đổi liên tục, từ Giao Chỉ quận vương cho đến An Nam Quốc vương, mỗi một danh vị lại tương ứng với các quy chế triều cống khác nhau. Đồ cống vì thế tương đối tùy tiện, nhà Lý thấy cái gì có vẻ quý giá (như voi, kỳ lân) thì đều đem sang cống, chứ chưa có quy định về cống phẩm rõ ràng.

    Đến đời Lê thì quy chế này bắt đầu được cố định. Đặc biệt là khoản cống người vàng. Quy chế về đồ cống phẩm bắt đầu được quy định cũng từ thời Lê, đọc Lịch Triều Hiến Chương, phần Bang giao chí có ghi rõ danh sách đồ cống mà Việt Nam phải chuẩn bị. Trong đó không có những thú vật như voi. Các triều đại sau đó như Mạc hay Lê trung hưng vẫn tuân theo các quy định về đồ cống đó. Trường hợp Quang Trung cống voi vì thế về danh nghĩa thì đã vượt rào, không tuân theo quy định trước đó. Trong bối cảnh Quang Trung vừa đại thắng quân Thanh, mà lại cống ngay một thứ không có trong quy định về đồ cống, mà thứ đồ cống đó lại là một thứ mang ý nghĩa quân sự, thì đó rõ ràng là một động thái bày tỏ uy thế. Ý là ta đây không chỉ không thèm tuân theo quy chế của bọn ngươi, ta thích cống thứ gì thì cống thứ đó, mà lại còn cống thứ có thể khiến triều đình nhà Thanh mất mặt nữa.

  10. #20
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    22
    Trích dẫn Gửi bởi Say Tỉnh Cuộc Đời
    đến tận thời lê quý đôn đi sứ, về qua biên giới nó còn thu hết sách lại mà. tật diệt thông tin kiểu trung quốc có từ thời xưa chứ không phải bây giờ mới có bác ơi.
    Tùy trường hợp thôi, vì từ thời Đinh đến thời Trần suốt một thời gian dài thì một nhiệm vụ quan trọng của sứ thần Việt Nam sang Trung Hoa là xin sách, hầu như lần nào cũng có sách đem về, từ kinh Phật cho đến sách Nho. Trao đổi hàng hóa thương mại giữa Trung Hoa và các nước lân cận như Việt Nam thì sách vở thường ít bị cấm đoán, đến thời các chúa Nguyễn, Chu Thuấn Thủy chạy sang Đàng Trong còn phải bất ngờ vì ở Tàu có sách gì thì ở Đàng Trong có sách đó, sách nào hiếm quá mới không có thôi.

    Những trường hợp sứ thần bị hoạch họe cũng xảy ra khá thường xuyên, mà Lê Qúy Đôn bị thu sách là một điển hình. Khá nhiều trường hợp sứ bộ về đến biên giới thì bị quan trấn thủ giữ lại hàng hóa tài vật, sau phải gửi thư sang đối chất tố cáo mới đòi được đồ đạc về. Những trường hợp đó thường là do quan lại biên giới đòi hối lộ, nhũng nhiễu, sứ bộ có đồ gì thì bị giữ lại hết cả, trong đó có sách, chứ triều đình Trung Hoa ít khi cấm đoán chuyện sách vở. Thông thường với triều đình Trung Hoa thì chuyện sứ bộ nước ngoài bị quan biên giới xách nhiễu thì bị coi là quốc sỉ, nên khi có thư tố cáo thì thường được giải quyết nhanh, đồ đạc được trả về. Chứ sách vở mà sứ bộ mua thì cũng chỉ là sách thông thường ở kinh đô, có gì đâu mà phải cấm đoán.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •