Trang 3 của 8 Đầu tiênĐầu tiên 12345 ... CuốiCuối
Kết quả 21 đến 30 của 76
  1. #21
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Mình nghe nói họ Bùi là 1 trong 4 họ đầu tiên của VN đúng ko nhỉ [IMG]images/smilies/39.gif[/IMG]
    Họ Trần có gốc từ TQ [IMG]images/smilies/4.gif[/IMG]

  2. #22
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    Thế ở diễn đàn có bác nao họ Tống không nhỉ. Chỉ cho tui nguồn gốc với :S

  3. #23
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Mềnh họ PHẠM...ở đâu ra thế các bác??? biết mỗi Phạm Ngũ Lão là nổi tiếng từ xưa

  4. #24
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    6
    Hồi học 12 mình có quen nhỏ bạn tên là Chiêm Lệ Quân.Xin hỏi có bác nào biết về nguồn gốc của dòng họ lạ này không

  5. #25
    Phạm là một họ phổ biến ở Việt Nam. Đây cũng là một trong các họ của Trung Quốc. Họ này chiếm khoảng 5% dân số Việt Nam. Tại Hoa Kỳ họ này đứng thứ 498 về mức độ phổ biến (khoảng 0,022% dân số). Ở Pháp họ này đứng thứ 951 (khoảng 5.509 người).
    *Sơ lược về họ Phạm Việt Nam
    Việt Nam có 5 dân tộc có người mang họ Phạm:
    * 1/165 họ của người Kinh
    * 1/11 họ của người Mường
    * 1/11 họ của người Tày
    * 1/172 họ của người Hoa
    * 1/49 họ của người Việt gốc Khmer
    Trong các dân tộc ít người khác của Việt Nam, như dân tộc Chăm, tuyệt nhiên không có người nào họ Phạm.
    Họ Phạm ở Việt Nam là một trong những dòng họ tương đối lớn (ước tính trên 5 triệu người) nhưng chưa một lần có người làm Vua; nhiều người họ Phạm là "Lương đống của xã tắc".
    Nhân vật lịch sử họ Phạm đầu tiên trong chính sử là Danh tướng Phạm Tu - khai quốc công thần triều Tiền Lý, đã có công: đánh đuổi quân Lương (542), đánh tan quân xâm lấn Lâm Ấp (543), dựng Nhà nước Vạn Xuân (544)
    Theo các bản thần phả, thần tích sự xuất hiện các vị họ Phạm sớm hơn, như:

    1. Nam Hải Đại Vương Phạm Hải, và ba anh em Phạm Vĩnh (Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng Thái Thượng đẳng Thần) thế kỷ III trước CN, giúp Vua Hùng thứ 18 đánh Thục
    2. Tướng quân Phạm Gia - tướng của An Dương Vương, 208 trước CN lui quân về vùng Hoài Đức
    3. Phạm Danh Hương chồng của Bát Nạn nữ tướng quân (thời Hai Bà Trưng)

    Họ Phạm ở Việt Nam có thể có hai nguồn gốc chính: từ cộng đồng tộc Việt trong Bách Việt của nước Văn Lang, Âu Lạc xưa, từ nguồn gốc ở các tỉnh miền Nam Trung quốc di cư sang và được Việt hóa. Ngoài ra còn có họ Phạm từ các dòng họ khác đổi sang như họ Mạc,...

    Các dòng họ Phạm - Việt Nam không có một ông tổ duy nhất. Do vậy, Ban Liên lạc họ Phạm (Việt Nam) đề nghị suy tôn Đô Hồ Đại vương Phạm Tu là một Thượng Thuỷ tổ họ Phạm (Việt Nam). Ông là nhân vật lịch sử đầu tiên của dòng họ Phạm có công lao đối đất nước đã được ghi vào sử sách. Chúng ta cũng không quên công lao các vị đã sinh thành dưỡng dục Thượng thủy tổ. Mỗi khi dâng hương ở Đình Ngoại, con cháu dòng họ Phạm đều kính cẩn nghiêng trước bàn thờ hai cụ thân sinh.
    *Cư trú

    Họ Phạm Việt Nam có sự chuyển cư rất mạnh lan tỏa trong vùng châu thổ sông Hồng, rồi vào Ái Châu (Thanh Hóa). Từ Thanh Hóa lại có sự chuyển cư trở lại vùng Sơn Nam Hạ (ngày nay là các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) và vào miền Nam Trung bộ (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,... mạnh nhất là vào thời Lê (thế kỷ thứ XV).
    Đặc biệt trong thời đại hội nhập quốc tế, người họ Phạm Việt Nam định cư ở nhiều nước trên thế giới
    * Nguồn gốc họ Phạm Trung Quốc

    Thời xa xưa ở Trung Quốc thường người ta lấy địa danh mình sinh sống, lấy sắc phong hoặc lấy theo họ của chủ mà mình thờ làm họ. Họ Phạm cũng không ngoài quy luật đó.
    Theo Nguyên Hà Tính Toản và Lộ Sử, Lưu Luy thuộc dòng Đường Đế Nghiêu. Lưu Luy lập ra nước Đường nay ở tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc và thường gọi là Đường Đỗ Thị. Vào triều đại nhà Chu, Chu Thành Vương chiếm nước Đường. Một người cháu Lưu Luy được cấp đất Đỗ Thành ở Tây An, tỉnh Thiểm Tây và được phong tước Đỗ bá. Do vậy, con cháu nhận Đỗ làm họ.

    Vào cuối đời Tây Chu, Chu Tuyên Vương tin vào những điều huyền hoặc, quan thượng đại phu là Đỗ Bá không làm theo nên bị giết, khi đó có quan hạ đại phu là Tả Nho can rằng: "Những chuyện huyền hoặc ngày nay sao nhà vua lại quá tin như vậy. Nếu nhà vua giết Đỗ Bá thì kẻ hạ thần e rằng người nước ngoài nghe thấy những chuyện huyền hoặc cũng đem lòng khinh bỉ, xin nhà vua nghĩ lại". Người đời sau thương Đỗ Bá là người trung, mới lập đền thờ, gọi là "miếu Đỗ Chủ" cũng gọi là "Hữu tướng quân miếu".

    Đất Đỗ Thành lại bị Chu Tuyên Vương chiếm và con của Đỗ Bá là Đỗ Thấp Thúc chạy sang nước Tấn, rồi được phong chức Sĩ Sư nên đổi họ Đỗ thành họ Sĩ. Đó là thời đầu nhà Đông Chu, Chu U Vương, 781 TCN-771 TCN.

    Đến đời chắt của ông này là Sĩ Hội. Đó là ông tổ của họ Phạm. Sĩ Hội "là người tín nghĩa, ôn hòa mà không nhu nhược, uy nghiêm mà không dữ tợn". Ông có công trong việc trị quốc và dẹp yên những nước Xích Địch. Chu Định Vương (607-571 TCN) cho ông phẩm phục chức thượng khanh và kiêm chức thái phó, lại được phong ở đất Phạm. Từ đó con cháu của Sĩ Hội đều đổi thành họ Phạm. Sĩ Hội là Phạm Mạnh, con là Phạm Mang, cháu là Phạm Phường.

    Một thời gian sau đó quyền lực nước Tấn bị chia sẻ vào tay tám họ, rồi bốn họ, rồi nước Tấn bị chia làm ba nước Hàn, Triệu, Ngụy. Sử gọi ba nước đó là Tam Tấn. Thời kì đó là đời vua Chu Kính Vương thứ 28 tức năm 492 TCN. Họ Triệu lấy danh nghĩa vua Tấn kết hợp với họ Hàn và họ Ngụy đánh họ Phạm và họ Trung Hàng. Phạm Cát Xạ và Trung Hàng Di phải cố thủ ở Triều Ca (kinh đô nhà Thương cũ). Cuối cùng thành Triều Ca vỡ, con cháu họ Phạm phải chạy sang nước Tề rồi kể từ đó đi lưu lạc khắp nơi.

    * Những người Việt Nam họ Phạm nổi tiếng

    * Phạm Tu: võ tướng nhà Tiền Lý giúp Lý Nam Đế dựng nước Vạn Xuân
    * Phạm Chiêm: võ tướng nhà Tiền Ngô Vương giúp Ngô Quyền dựng nước và là Hào trưởng vùng Trà Hương.
    * Phạm Cự Lạng: danh tướng thời nhà Đinh và nhà Tiền Lê
    * Phạm Bạch Hổ: một sứ quân trong số 12 sứ quân nhà Ngô
    * Phạm Thị Trân: bà tổ nghề hát chèo Việt Nam.
    * Phạm Ngũ Lão: danh tướng dưới quyền Trần Hưng Đạo.
    * Phạm Công Trứ: tể tướng thời Hậu Lê..
    * Phạm Đình Hổ: nhà văn, nhà thơ thời Hậu Lê
    * Phạm Công Thạch: Thượng tướng quân, Đội trưởng đội cẩm y vệ (chưa rõ triều đại), quê quán ở Trung Lễ - Đức Thọ - Hà Tĩnh "nguồn từ sổ cúng nhà thờ họ Phạm Trung Lễ". Sưu tập bởi "Phạm Quốc Sinh - cháu đời thứ 17 - làm việc tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn".
    * Phạm Nguyễn Du: nhà thơ thời Hậu Lê.
    * Phạm Vấn: công thần khai quốc nhà Hậu Lê.
    * Phạm Văn Xảo: công thần khai quốc nhà Hậu Lê.
    * Phạm Tử Nghi: danh tướng nhà Mạc.
    * Phạm Viết Chánh: danh sĩ và là Án sát tỉnh An Giang triều vua Tự Đức, nhà Nguyễn.
    * Phạm Phú Thứ: đại thần nhà Nguyễn.
    * Phạm Hữu Nhật: thủy quân chánh đội trưởng suất đội Hoàng Sa triều Nguyễn
    * Phạm Hữu Tâm: danh tướng của nhà Nguyễn, Việt Nam.
    * Phạm Thế Hiển: danh thần đời Minh Mạng

    * Chính trị - Quân sự

    * Phạm Hồng Thái: nhà hoạt động trong Phong trào Đông Du và là người đặt bom ám sát toàn quyền Đông Dương Martial Merlin vào năm 1924 tại Quảng Châu, Trung Quốc.
    * Phạm Văn Đồng: thủ tướng Việt Nam
    * Phạm Quỳnh: Thượng thư của Vua Bảo Đại.
    * Trần Tử Bình: tên thật là Phạm Văn Phu. Là một trong những vị tướng đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
    * Phạm Hữu Lầu: đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên tại tỉnh Đồng Tháp. Bí thư Xứ ủy Nam bộ
    * Phạm Hùng, Thủ tướng Việt Nam
    * Phạm Ngọc Thạch: Bác sĩ, Cố Bộ trưởng Bộ Y tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
    * Phạm Quang Lễ: tức Trần Đại Nghĩa, Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ
    * Phạm Văn Cương: tức Nguyễn Cơ Thạch, Cố Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam
    * Phạm Huy Thông: nhà thơ, nhà giáo, và nhà khoa học xã hội Việt Nam.
    * Phạm Song: Giáo sư, Viện sĩ, Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam.
    * Phạm Thế Duyệt: ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa VII và VIII, Bí thư thành ủy Hà Nội, chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa V.
    * Phạm Văn Trà: Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2006, ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
    * Phạm Tuân, trung tướng, nhà du hành vũ trụ Việt Nam
    * Phạm Gia Khiêm: Ủy viên Bộ Chính trị, phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam.
    * Phạm Quang Nghị: Bí thư Thành uỷ Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị khoá X.
    * Phạm Thanh Ngân: thượng tướng, nguyên chủ nhiệm tổng cục chính trị QĐND VN
    * Phạm Văn Côn: tên thường gọi là Trần Quyết Trung tướng
    * Phạm Xuân Ẩn: Thiếu tướng tình báo (Quân đội nhân dân Việt Nam)
    * Phạm Kiệt: Phạm Quang Khanh, trung tướng (quân đội nhân Việt Nam)
    * Phạm Văn Hai: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân kháng chiến chống Pháp và Mỹ
    * Phạm Văn Phú: Trung tướng QLVNCH
    * Phạm Văn Thế: Thiếu tướng Công an nhân dân Việt Nam
    * Phạm Văn Bạch: Nguyên Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
    * Phạm Minh Chính: Phó Giáo sư, Tiến sỹ Luật; Ủy viên Trung ương Đảng CSVN khóa XI, Trung tướng Công an Nhân dân; Thứ trưởng kiêm Tổng Cục trưởng Tổng Cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an.
    * Phạm Ngọc Thảo: đại tá tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam.
    * Phạm Văn Chiêu: chủ tịch đầu tiên của Ủy ban hành chánh kháng chiến Sài Gòn - Gia Định
    * Phạm Quý Ngọ: Trung tướng, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, Thứ trưởng Bộ Công an.
    * Phạm Tuân: Trung tướng, Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Liên Xô, người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Bộ Quốc phòng.
    * Phạm Bình Minh: Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao, con trai Nguyễn Cơ Thạch.

    * Lĩnh vực khác

    * Phạm Khuê: con trai Phạm Quỳnh, Cố Giáo sư, Bác sỹ, nguyên Viện trưởng Viện Lão khoa, Bộ Y tế.
    * Phạm Tuyên: con trai Phạm Quỳnh, Nhạc sỹ Việt Nam.
    * Phạm Duy Tốn: nhà văn hiện thực.
    * Phạm Duy: con trai nhà văn Phạm Duy Tốn, nhạc sĩ tân nhạc nổi tiếng
    * Phạm Đình Chương: nhạc sĩ nổi tiếng.
    * Phạm Thế Mỹ: nhạc sĩ, nhà cách mạng nổi tiếng.
    * Phạm Hổ: nhà văn, anh trai nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ.
    * Phạm Cung: họa sĩ
    * Phạm Văn Mách: Lực sĩ
    * Phạm Huỳnh Tam Lang: Cầu thủ nổi tiếng thời Việt Nam Cộng Hòa
    * Thanh Tuyền: Ca sĩ: Thanh Tuyền (Hải ngoại) - (Phạm Như Mai)
    * Phạm Minh Tài: Nhà văn Sơn Nam, còn gọi là "ông già Nam Bộ". Là nhà văn, nhà báo, nhà khảo cứu Việt Nam.
    * Phạm Văn Khoa: đạo diễn lão thành của điện ảnh cách mạng Việt Nam
    * Phạm Cô Gia: lão nữ võ sư chưởng môn Phạm Gia võ phái.
    * Phạm Khắc: Nghệ sỹ nhân dân, nguyên Giám đốc Đài Truyền hình HTV, Đạo diễn phim truyền hình ( VD: Mêkông ký sự)
    * Phạm Nhật Vượng doanh nhân nổi tiếng.
    * Phạm Đình Dũng: Chủ tịch HĐQT Kiêm Tổng Giám Đốc UNICO Group, là danh nhân, Hội doanh nghiệp trẻ TP. HCM. Em ruột của Phạm Đình Thiện

    * Những người Trung Quốc họ Phạm nổi tiếng

    * Phạm Lãi, mưu thần của Việt Vương Câu Tiễn, giúp Câu Tiễn khôi phục nước Việt, diệt nước Ngô của Phù Sai
    * Phạm Thư, mưu sĩ thời Chiến Quốc của nước Tần, giúp Tần thêm hùng mạnh, đặt nền móng để sau này Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa
    * Phạm Tăng, mưu sĩ của Hạng Vũ thời Hán Sở tranh hùng
    * Phạm Trọng Yêm, nhà cải cách thời nhà Tống
    * Phạm Chí Nghị, cầu thủ bóng đá Trung Quốc
    * Phạm Băng Băng, nữ diễn viên Trung Quốc

    *Những người họ Phạm nổi tiếng khác

    * Phạm Văn Phương, ca sĩ, diễn viên Singapore

  6. #26
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    27
    *Lê là một trong các họ phổ biến nhất ở Việt Nam. Lê cũng là một trong các họ của Trung Quốc, họ này thường xuất hiện ở miền Nam Trung Quốc (Quảng Đông - Hồng Kông). Tuy nhiên, theo gia phả của họ Lê, dòng họ này được coi là thủy tổ của người Việt từ thời khai thiên lập địa bắt đầu với dân tộc Lạc Việt đến Đại Việt. Đặc biệt, họ cho rằng dòng họ này chỉ tồn tại ở nước Việt.
    Ký tự Latinh của họ này thường được biết là: Lai hoặc Le, có thể gây nhầm lẫn với họ Lý là Lee. Tuy nhiên theo phát âm hán tự thì vẫn được đọc là lý.

    Tại Trung Quốc, có các thuyết sau về nguồn gốc của họ Lê tại quốc gia này:

    * Hậu duệ của bộ tộc Cửu Lê.
    * Nước Lê (ngày nay là huyện Lê Thành, địa cấp thị Trường Trị, Sơn Tây, Trung Quốc) là chư hầu của nhà Thương, sau bị Tây Bá hầu Cơ Xương tiêu diệt. Đến khi Chu Vũ Vương thi hành chế độ phong kiến, phong tước cho các hậu duệ của Đế Nghiêu. Hậu duệ của những người cai trị nước Lê được phong tước hầu. Con cháu sau này lấy tên nước làm họ, do đó mà có họ Lê.
    * Giai đoạn Ngũ Hồ loạn Hoa thời kỳ Nam-Bắc triều, những người Tiên Ti di cư từ phương Bắc xuống Trung Nguyên, sau bị Hán hóa và cải họ thành họ Lê. Ngụy thư quan thị chí có viết "Tố Lê thị hậu cải vi Lê thị".
    * Một chi trong Thất tính công của người Đạo Tạp Tư (Taokas) ở miền tây Đài Loan sau bị Hán hóa, đã giúp đỡ nhà Thanh dẹp yên cuộc nổi dậy của Lâm Sảng Văn nên được Càn Long ban cho họ Lê.


    Họ Lê với việc xây dựng Miền đồng bằng Sông Hồng
    Một số dòng họ Lê lâu đời nhất
    Họ Lê Đột- Phong Mỹ-Xuân Tân-Thọ Xuân-Thanh Hóa (Tổ họ của 2 triều Tiền Lê và Hậu Lê)

    Dòng tộc Lê Đột là một dòng họ lớn của nước ta. Dòng họ đã có mặt rất sớm trên đất nước Đại Việt (cách ngày nay trên ngàn năm).Dòng họ đã sinh ra nhà vua Lê Hoàn lập nên triều Tiền Lê và nhà vua Lê Lợi lập nên triều Hậu Lê. Đó là các triều đại nổi tiếng trong lịch sử nước ta.

    Tổ tiên dòng họ Lê Đột có đến 3 giả thuyết:

    a-Tổ tiên dòng họ từ ngoài Bắc di cư vào Thọ Xuân, Thanh Hóa. Theo tài liệu (về quan hệ phả hệ của dòng họ Lê Đột do Lê Túc (sinh sống ở Hà Nội) biếu họ Lê Đột (tài liệu viết ngày 10/2/1996)) : từ thời Hai Bà Trưng có tướng quân Lê Hiệp (Căn kỷ Công chúa-có đến thờ ở thôn Thượng Mạo –Phú Lương – Thanh Oai-Hà Đông cũ)thuộc tổ tiên dòng họ Lê Đột.

    b-Tổ tiên dòng họ Lê Đột xa xưa định cư ở Đông Sơn, Thanh Hóa di cư dần về phía tây Thanh Hóa theo sông Chu, sông Cầu chày. Trước thời Ngô Quyền ở Đông Sơn đã có dòng họ Lê Sương (dân bản địa) và họ Lê Ngọc di cư từ Trung Quốc đến (đời Tùy) (Các cứ liệu lấy từ các bộ sử: Đại Việt sử ký toàn thư (của Ngô Sĩ Liên), Đại Việt sử ký –Tiền biên (của Ngô Thì Sĩ), Việt sử lược... và các tài liệu viết về lịch sủ (sau Cách mạng tháng tám)).

    c-Tổ tiên dòng họ Lê Đột là dân bản địa thuộc dòng Việt cổ có quan hệ khá gần gũi với người Mường bản địa (cụ Lê Luyến có hai người con được phong tước hiệu là Đạo Lương, Đạo Lường theo tước hiệu Lang đạo thuộc xứ Mường Phúc địa cổ).

    Cụ tổ Lê Đột định cư ở thôn Phong Mỹ vào khoảng thế kỷ thứ 9. Ông là người đầu tiên khai phá, lập làng, sắc phong thời Hậu Lê có câu: “...Lê Quan Sát quản cư thử ấp Thuần Mỹ thôn” (Lịch sử và truyền thống làng Phong Mỹ-Chủ biên Lê Bá Nho-UBND xã Xuân Tân in ấn và ban hành năm 2001)

    Theo tài liệu của Lê Túc (hậu duệ dòng Lê Lợi) : Cụ Lê Đột sinh Lê Lộ. Lê Lộ sinh hai con trai là Lê Thái Vương (sinh Lê Hoàn phát triển thành nhà tiền Lê) và Lê Luyến ( Lê Quan Sát). Lê Luyến sinh ba con trai: Lê Đại Lương (Đạo Lương), Lê Đức (tự là Nhân Đức) phát triển thành dòng họ Lê ở Phong Mỹ và Lê Nhân Lương (Đạo Lường phát triển thành nhà Hậu Lê-Lê Lợi).

    * Nhánh Lê Hoàn

    Nhánh này lập nên nhà Tiền Lê kéo dài 29 năm (980-1009). Nhà vua Lê Hoàn có 11 hoàng tử và một con nuôi đều được phong vương trấn trị ở Phù Đái (Hải Phòng), Phong Châu (Phú Thọ), Phù Lan – Đằng Châu – Mạc Liên (Hưng Yên), Ngũ huyện gia – Cổ Lãm (Bắc Ninh), Đỗ Động (Hà Tây cũ), Vũ Lũng (Thanh Hóa), Diễn Châu (Nghệ An). Do tranh dành quyền lực nội bộ, để tránh bị hại nhiều hoàng tử và gia đình bỏ trốn chạy không để lại dấu vết. Hiện nay chỉ mới sâu chuỗi được Lê Tần (xuất hiện đời Nhà Trần) và nhánh Lê Long Việt gồm các chi: Lê Bá Anh, Lê Danh. Lê Bá Em, Lê Đắc (và 2 chi thất truyền) cư ngụ tại thôn Phương La Đông (Xá Đông) xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh.

    * Nhánh Lê ở Phong Mỹ

    Thủa ban đầu dòng họ Lê (Lê Luyến rồi Lê Đức) có hai đến ba chi, quây quần bên nhau ở khu Ngõ Thượng, thôn Phong Mỹ (đó là gò đất cao nhất làng có độ cao so với mặt biển là 10m, không bị ngập lụt do sông Cầu Chày gây ra hằng năm). Sau này dòng họ phát triển thành năm chi ở thôn Phong Mỹ, gồm các chi: Lê Hữu, Lê Bá, Lê Đình, Lê Văn, Lê Viết và một chi “họ Đồng chiêm” ở Đồng Văn (Đông Sơn Thanh Hóa). Con cháu dòng họ Lê Luyến-Lê Đức ở cố định làm ruộng tại thôn Phong Mỹ. Chỉ có một số ít rời khỏi làng đi nơi khác (như chi Lê Viết có người lập nghiệp ở Đông Sơn, Thanh Hóa, chi Lê Đình có người đi lập nghiệp ở Hà Nội).Chi Lê Đình, Lê Bá thường có nhiều con cháu học hành đỗ đạt cao, một số người làm quan thời Trần, thời hậu Lê. Chi Lê Hữu, Lê Văn, Lê Viết thường có con cháu tham gia các chức sắc địa phương.

    * Nhánh Lê Lợi

    Nhánh này lập nên nhà Hậu Lê kéo dài 356 năm (từ 1428 đến 1788). Từ 3 chi ở Lam Sơn (Thọ Xuân Thanh Hóa). Cuối thời Hậu Lê phát triển liên tiếp 30 đời (143 gia đình) phân bổ từ ngoài Bắc vào đến miền Trung (Quảng Nam).

    Qua các thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc và sau cách mạng tháng 8, con cháu dòng họ Lê Đột đã không ngừng đóng góp vào việc giữ nước, xây dựng và phát triển đất nước, xứng đáng với truyền thống vinh quang của dòng tộc. Ngày nay (thế kỷ 20 và 21) con cháu hậu duệ nhà Lê Đột định cư trên nhiều tỉnh kéo dài từ ngoài Bắc đến trong Nam. Nhiều con cháu họ Lê Đột đã trở thành các chiến sỹ, lãnh tụ cách mạng, các tướng lĩnh quân đội, các nhà khoa học, kỹ thuật, các nhà hoạt động chính trị - xã hội, các nhà nghiên cứu, các nhà văn, nhà thơ...có danh tiếng, các doanh nhân thành đạt.
    Họ Lê thôn Phương La Đông (Xà Đông), Tam giang, Yên Phong, Bắc Ninh, hậu duệ của Hoàng Đế Lê Trung Tông

    Hậu duệ của Hoàng đế Lê Trung Tông trốn chạy về Ngã Ba Xà cách đây đã hơn 1000 năm. Trong phả tộc ở thôn Phương La Đông ( Xà Đông), xã Tam giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh có ghi như sau: vợ vua Lê Trung Tông “đã cùng một số thân thuộc trốn chạy về Vũ Bình Khẩu lánh nạn, rồi sinh con và định cư ở đây, dần dần phát triển thành một dòng họ lớn”. Tại thôn Phương La Đông (Xà Đông) hiện còn lưu giữ tộc phả của 6 chi thuộc hậu duệ Hoàng Đế Trung Tông, đó là các chi Lê Bá, Lê Danh, Lê Đắc và 3 chi khác đã bị thất truyền. Ông tộc trưởng Lê Bá Duyệt cho biết đến nay đã có 38 đời của dòng họ ông sinh sống trên dải đất dọc sông Cầu này.

    Như vậy con cháu Lê Hoàn đã có mặt ở khu vực Ngã Ba Xà hơn 1000 năm. Việc hậu duệ vua Trung Tông cùng các trung thần nhà Tiền Lê về Vũ Bình Khẩu, nơi rất gần thành Đại La cho thấy họ vẫn nuôi hy vọng thực hiện điều mong ước của Lê Hoàn là dời đô về Thăng Long để xây dựng một nước Đại Cồ Việt hùng mạnh.

    Chính các đại sư cùng về Ngã Ba Xà, những người đã từng đi chiến trận với Lê Hoàn và cùng chịu đựng gian khổ với hậu duệ của đức vua, họ là những trí thức thời bấy giờ chứ không phải ai khác đã viết và ngâm lên bài thơ “Nam quốc sơn hà” và tham gia đánh tan quân Tống trên bờ sông Như Nguyệt.
    Họ Lê với Quá trình Nam tiến - phần Miền Trung
    Sơ lược về vùng đất từ Quảng Bình đến Bình Định giai đoạn từ thời Hùng Vương đến 1802
    Lược sử các tộc Lê đặc trưng

    Họ Lê với Quá trình Nam tiến - phần Miền Nam
    Những người Việt Nam họ Lê nổi tiếng

    * Lê Hồng Phong (1902 – 6 tháng 9 năm 1942) là Tổng bí thư thứ 2 của Đảng Cộng sản Đông Dương từ 1935 đến 1936.
    * Lê Đức Anh: Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1992 đến tháng 12 năm 1997.
    * Lê Hồng Anh: Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam.
    * Lê Công Tuấn Anh, (nam) diễn viên điện ảnh Việt Nam
    * Lê Cung Bắc, diễn viên, đạo diễn, NSƯT
    * Lê Duẩn, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
    * Lê Dung, Nghệ sĩ nhân dân
    * Lê Văn Dũng: Đại tướng, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.
    * Lê Quý Đôn, nhà bác học thời Lê-Trịnh
    * Lê Khả Kế (1918-2000), Nhà Từ điển học hàng đầu của Việt Nam.
    * Lê Hựu Hà, Nhạc sĩ Việt Nam
    * Lê Thanh Hải: Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X.
    * Lê Đại Hành (Lê Hoàn), vua sáng lập nhà Tiền Lê
    * Lê Hoàng, Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, Giám đốc Nhà xuất bản Trẻ
    * Lê Hoàng, đạo diễn điện ảnh của Việt Nam (phim Gái nhảy).
    * Lê Minh Hoàng, nguyên Đại biểu Quốc hội Việt Nam, nguyên Giám đốc Công ty Điện lực TP.HCM; Bị cáo trong Vụ điện kế điện tử năm 2009.
    * Lê Minh Hương: Thượng tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam
    * Lê Văn Hưu, nhà sử học đời nhà Trần, tác giả bộ Đại Việt sử ký nay không còn nhưng được sử gia Ngô Sĩ Liên đã dựa vào để soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư
    * Lê Văn Khôi, thủ lĩnh cuộc nổi dậy chống lại nhà Nguyễn ở thành Phiên An
    * Lê Văn Lan, Giáo sư sử học.
    * Lê Quang Linh, ca sĩ dòng dân ca Việt Nam.
    * Lê Mã Lương, Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Anh hùng Lực lượng Vũ trang; Giám đốc Bảo tàng Quân đội.
    * Lê Huy Ngọ, Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Việt Nam), Nguyên Trưởng Ban Phòng chống Bão lụt Trung ương.
    * Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam
    * Lê Trọng Tấn: Đại tướng, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
    * Lê Văn Thiêm: nhà toán học Việt Nam.
    * Lê Đức Thọ, Chính khách Việt Nam
    * Lê Đức Thúy, Tiến sĩ, cựu thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
    * Lê Thái Tổ (Lê Lợi), vua sáng lập nhà Hậu Lê
    * Lê Thánh Tông, vua anh minh nhất nhà Hậu Lê
    * Lê Tiến Thọ, NSND Thứ trưởng bộ Văn Hóa, Thể thao & Du Lịch
    * Lê Hữu Trác, Danh y Việt Nam, thường được gọi là Hải Thượng Lãn Ông.
    * Lê Bá Khánh Trình, nhà toán học Việt Nam.
    * Lê Văn Trọng: danh tướng Việt Nam.
    * Lê Xuân Tùng: nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII.
    * Lê Thế Tiệm: Thượng tướng, thứ trưởng Bộ Công an
    * Lê Lai: Tướng của Lê Lợi đã liều mình cứu ông này
    * Lê Phong: Cháu 9 đời của Lê Lợi
    * Lê văn Đại:lĩnh vực kinh tế
    * Lê Công Vinh: Cầu thủ bóng đá xuất xắc, đắt giá nhất Việt Nam năm 2009
    * Lê Phụng Hiểu: Người có công lớn phò vua Lý Thái Tông lên ngôi hoàng đế
    * Lê Văn Thịnh: Thủ khoa đầu tiên trong lịch sử thi cử Việt Nam
    * Lê Văn Duyệt: Công thần thời nhà Nguyễn
    * Lê Duy Mật: Hoàng tộc nhà Lê người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại chúa Trịnh suốt 30 năm
    * Lê Ngọc Hân: Công chúa con vua Lê Hiển Tông, hoàng hậu của vua Quang Trung

    Những người Trung Quốc họ Lê nổi tiếng

    * Lê Cảnh Hi, nhà thư pháp nổi tiếng thời Bắc Chu.
    * Lê Nguyên Hồng, tổng thống Cộng hòa Trung Hoa sau Viên Thế Khải
    * Lê Dân Vĩ, người khai sinh nền điện ảnh Hồng Kông
    * Lê Minh, nam ca sĩ, diễn viên Hồng Kông
    * Lê Tư, nữ diễn viên Hồng Kông
    * Lê Cường, Chính trị gia nổi tiếng

  7. #27
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    @Wellinhton:
    Ý cậu là cụ Lê Đột là tổ của những người họ Lê được liệt kê ở trên hay sao?
    Lê Đột là người họ Lê đầu tiên ở VN ?

  8. #28
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    11
    Hừ, hiện nay thì chưa có tài liệu cụ thể nào nói về ai là cụ tổ cua họ Lê nên chưa thể kết luận được Lê Đột là cụ tổ của họ Lê.Dòng tộc Lê Đột là một dòng họ lớn của nước ta.
    "Họ Lê Đột- Phong Mỹ-Xuân Tân-Thọ Xuân-Thanh Hóa (Tổ họ của 2 triều Tiền Lê và Hậu Lê).Dòng họ đã có mặt rất sớm trên đất nước Đại Việt (cách ngày nay trên ngàn năm).Dòng họ đã sinh ra nhà vua Lê Hoàn lập nên triều Tiền Lê và nhà vua Lê Lợi lập nên triều Hậu Lê. Đó là các triều đại nổi tiếng trong lịch sử nước ta."

  9. #29
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2

    "Họ Lê Đột- Phong Mỹ-Xuân Tân-Thọ Xuân-Thanh Hóa (Tổ họ của 2 triều Tiền Lê và Hậu Lê).Dòng họ đã có mặt rất sớm trên đất nước Đại Việt (cách ngày nay trên ngàn năm).
    Dòng họ này mà sớm cái gì?
    -Trước đó 800 năm còn có bà Lê Chân thới Hai Bà TRưng (40-43)

    Thời Tùy -Đường còn có Lê Cốc(Ngọc)

    Thời Dương Đình Nghệ còn có Lê Lương là hậu duệ của Lê Cốc là tổ 7 đời của Lê Văn Hưu.....

  10. #30
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Mình họ Trần.
    Đại khái là rất tự hào vì mang họ Trần, nhiều danh nhân, anh hùng nổi tiếng mà

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •