Trang 1 của 3 123 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 26
  1. #1
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    1

    bộ tư liệu nội chiến cuối Lý 1202 - 1229

    bộ tuyển tập các cổ sử VN: Lưu ý đặc biệt là cuốn Đại Việt sử lược trong bộ sử này, nó viết chi tiết nhất về giai đoạn nội chiến cuối Lý 1202 - 1229:
    http://www.mediafire.com/?ejkf4urng11wgeu


    Bản đồ VN cuối thời Lý và lãnh thổ các phe phái năm 1209:



    Màu đỏ: khởi nghĩa Phí Lang ở làng Đại Hoàng ( Ninh Bình).
    Năm 1202, người làng Đại Hoàng bị bắt đi phu xây cửa Đại Thành ở Thăng Long cực khổ quá nên khởi nghĩa. Người chỉ huy là Phí Lang cùng với Đinh Khả, người tự xưng là hậu duệ nhà Đinh. Nhà Lý sai Trần Hinh và Từ Anh Nhĩ đi đàn áp nhưng bị đánh bại, Anh Nhĩ chết tại trận. Tháng 5 năm 1205, vua Lý Cao Tông lại sai Đỗ Anh Doãn đi đánh, vẫn thua. Đến tháng 10, Đàm dĩ Mông đem quân đắp lũy để đánh nghĩa quân, cùng lúc quân Phí Lang đốt hành cung Ứng Phong ( Nam Định), phá kho thóc, đốt nhà cửa. Đến tháng 8 năm đó, vua đành phải dụ hòa. Phí Lang và 170 hào trưởng ra hàng, song thực tế từ đó họ đã hoàn toàn chiếm lĩnh Ninh Bình.

    Màu Tím: Họ Đoàn ở Hồng Châu ( Hải Dương, Hải Phòng).
    Tháng 9 năm 1207, hào trưởng lớn là Đoàn Thượng, Đoàn Chủ nổi loạn, xây thành xưng vương. Vua sai Đàm Dĩ Mông, Phạm Bỉnh Di, Trần Hinh, Bảo Trinh họp quân đàn áp. Đoàn Thượng không chống nổi, ngầm mua chuộc quan trong triều là Phạm Du tâu vua rút quân về. Từ đó họ Đoàn ngày càng lớn mạnh, ngầm liên minh với Phạm Du, trở thành 1 trong 3 thế lực lớn nhất đất nước thời cuối Lý.

    Màu Xanh: Họ Trần ở Lưu Xá ( Thái Bình).
    Bắt đầu là ông Trần Lý, vốn nghề đánh cá, sau giàu có, liên kết với họ Tô và họ Lưu trong vùng, mua 1 chức quan nhỏ, trở thành người có thế lực. Mới đầu họ ko tham dự gì vào các cuộc phân tranh, chỉ ngấm ngầm mở rộng thế lực, chiếm cứ Hải Ấp ( Thái Bình). Khi Quách Bốc nổi loạn, họ tạm về phe với Quách Bốc.

    Màu Cam: Phạm Du ở Nghệ An.
    Đầu năm 1209, vua sai Phạm Du coi việc quân ở Nghệ An. Du nhân đó liều chiêu nạp trộm cướp, tăng cường thế lực, ngầm cấu kết với họ Đoàn ở Hồng Châu nhưng sau đó bị Phạm Bỉnh Di đánh bại ( lại còn tiến lên Hồng Châu giết cả Đoàn Chủ). Du vu tấu với Lý Cao Tông giết chết Phạm Bỉnh Di rồi đưa vua chạy trốn. Ít lâu sau, vua sai y về liên kết với họ Đoàn để đánh họ Trần đang nhân đó phất lên. Thế nhưng Phạm Du bị giết dọc đường, phe phái này cũng theo đó tan rã.

    Màu Vàng Đậm: Phạm Bỉnh Di, Quách Bốc ở Đằng Châu ( Hưng Yên).
    Vốn là 1 hoạn quan được vua tin cẩn. Năm 1209, Phạm Bỉnh Di được lệnh mang quân đánh loạn Phạm Du. Nhưng đánh bại Phạm Du và họ Đoàn rồi, ông ta lại bị vu tấu và bắt giam, giết chết. Tướng dưới quyền là Quách Bốc nghe tin giận quá, kéo quân đánh vào kinh đô, khiến Lý Cao Tông phải bỏ chạy. Ban đầu, phe phái này liên minh với họ Trần nhưng ngay trong năm ấy bị chính họ Trần tiêu diệt và thôn tín.

    Màu Hồng Nhạt: Họ Phạm ở Nam Sách thuộc Hồng Châu ( Hải Dương, Hải Phòng):
    1 họ lâu đời, có thế lực, ít tham dự cuộc phân tranh.

    -------------

    Đại Việt trong năm 1210 ( trước Trận Khoái Châu)
    họ Trần thôn tín thế lực của Quách Bốc ở Khoái Châu, bành trướng thế lực nhanh chóng




    Đại Việt năm 1212 ( sau trận Khoái Châu):

    họ Trần bị họ Đoàn đánh bại ở Khoái Châu. Trần Tự Khánh túc giận phá đê nhấn chìm cả Khoái Châu khiến dân chúng ở đây phẫn nộ bỏ theo họ Đoàn. Sau đó, họ Trần liên kết với họ Nguyễn để đánh họ Đoàn.



    Đại Việt năm 1216:
    Xuất hiện 1 phe mới là Đỗ Ất, Đỗ Nhuế nổi dậy đánh triều đình.



    Màu đỏ: khởi nghĩa Phí Lang ở làng Đại Hoàng ( Ninh Bình).
    Tiếp tục tồn tại. Đến 5. 1216 bị Trần tự Khánh tiêu diệt.

    Phạm Du đã bị tiêu diệt.
    Phạm Bỉnh Di- Quách Bốc đã bị họ Trần thôn tính.

    Màu Tím: Họ Đoàn ở Hồng Châu ( Hải Dương, Hải Phòng).
    họ vẫn nắm giữ vị trí cũ, trở thành 1 trong 3 thế lực mạnh nhất nước lúc bấy giờ.

    Màu Xanh: Họ Trần ( Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên).
    Ngay trong năm 1209, họ Trần thôn tính phe Quách Bốc ( Hưng Yên). 1 thời gian sau, Tô Trung Từ qua đời vì tai nạn, nên họ Trần kế thừa luôn lực lượng của Tô Trung Từ rồi mở rộng thế lực. Thế là họ đã bành trướng ra được ba vùng Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên, và các địa phương như Bắc Ninh, Bắc Giang,... trở thành phe sẽ thống nhất quốc gia sau này.

    Màu Hồng Đậm: họ Nguyễn ở Quốc Oai ( thuộc Hà Tây)
    Cầm đầu bởi Nguyễn Nộn là 1 tướng cũ của nhà Lý, 1 trong 3 thế lực mạnh nhất thời cuối Lý ( họ Trần, họ Đoàn và họ Nguyễn). Thế lực này sẽ tiêu diệt họ Đoàn, Nguyễn Nộn sẽ chết bệnh nhanh sau đó để nhà Trần thống nhất đất nước.

    Màu Xanh Nhẹ: Ô Kim hầu Nguyễn Bát ở Ô Kim ( Hoài Đức thuộc Hà Tây)
    Cầm đầu bởi 1 tướng cũ của nhà Lý, tuy chống triều đình nhà Lý nhưng không theo họ Trần. Có một dạo nhà Lý phải nương nhờ họ.

    Màu Xanh Đậm: Đỗ Át, Đỗ Nhuế ( Từ Liêm thuộc Hà Nội bây giờ).
    2 tướng cũ của nhà Lý, nổi loạn vào tháng 4 năm 1216. Vua Lý phải nhờ Nguyễn Bát đánh lại nhưng không thắng.

    Màu Xanh Lá: Họ Hà ở Quy Hóa ( Yên Bái, Tuyên Quang dọc sông Hồng).
    Một họ miền núi có thế lực. Khi Lý Cao Tông bị loạn Quách Bốc, ông ta đã chạy lên đây nương nhờ. Phe này tồn tại đến tận khi nhà Trần thống nhất đất nước, nhưng không can dự gì vào bất cứ cuộc xung đột nào, dù là một phe mạnh.

    Màu Hồng Nhạt: Họ Phạm ở Nam Sách thuộc Hồng Châu ( Hải Dương, Hải Phòng):
    1 họ lâu đời, có thế lực, ít tham dự cuộc phân tranh.

    Màu Vàng: triều đình nhà Lý.
    đến năm này thì họ chỉ còn nắm được khu vực quanh Thăng Long.


    cuộc phân tranh bắt đầu chấm dứt vào năm 1225 khi nhà Trần thay thế nhà Lý, và chính thức chấm dứt ít lâu sau khi Nguyễn Nộn tiêu diệt họ Đoàn rồi qua đời vào năm 1229.


    bản đồ chỉ có tính tham khảo tương đối, nhiều vùng xám không xác định được là đang thuộc phe nào.

  2. #2
    Ngày tham gia
    May 2017
    Bài viết
    26
    danh sách nhân vật các phe phái từ 1202 đến khoảng 1229
    ( để chắc ăn, có tính luôn 1 số nhân vật xuất hiện trong khoảng chục năm sau vì rất có thể họ cũng đã trưởng thành trong giai đoạn này):

    Phí Lang: khởi nghĩa làng Đại Hoàng lần đầu diễn ra năm 1152 ( Nùng Khả Lai), rồi 1198 ( Đinh Khả lãnh đạo) nhưng thất bại nhanh chóng. Từ năm 1203, khởi nghĩa nổ ra lần 3, chiến đấu bài bản, các trọng thần như Đỗ Kính Tu, Đàm Dĩ Mông đi đánh đều thảm bại. Đến tận năm 1216 họ mới bị nhà Trần tiêu diệt.
    Phí Lang
    Lý Bảo Lương ( có vẻ là Thượng Tướng quân)
    Đinh Khả ( tự xưng con cháu nhà Đinh)
    Bùi Đô

    Họ Hà: tộc trưởng tộc thiểu số, rất có thế lực. Lý Cao Tông trong loạn Quách Bốc đã chạy lên đây ở nhờ. Tuy về sau bị nhà Trần diệt, nhưng thực tế họ ít tham gia cuộc phân tranh. Về sau tàn dư của họ lập công thời 1258, 1285.
    Hà Vạn
    Hà Cao
    Hà Khuất ( 1257 chạy trạm tâu có sứ Nguyên sang, không biết lúc này có chưa)
    Hà Bổng ( 1258, đánh bại quân Mông Cổ, không biết lúc này có chưa)
    Nguyễn Nải (hào trưởng Bắc Giang, giết Phạm Du, ko biết có trùng tên không nhưng tướng của Hà Cao có 1 người cũng tên Nguyễn Nải)


    Họ Trần:
    Trần Lý
    Tô Trung Từ ( điện tiền chỉ huy, 1 thành viên quan trọng thời buổi đầu nhưng chết sớm vô cùng lãng nhách, để thế lực họ Tô lại cho nhà Trần thống lĩnh)
    Trần Thừa ( nhân vật quan trọng)
    Trần Thủ Độ ( nhân vật quan trọng, so ra như Tôn Quyền của Đông Ngô, bình ổn thời cuộc)
    Trần Hiến Sâm ( cùng Thủ Độ đánh thắng Lý Huệ Tông 1 lần)
    Trần Tự Khánh ( 1223 chết, nhân vật chủ chốt bành trướng thế lực nhà Trần.)
    Trần Thị Dung
    Trần Tam Nương ( gả cho Đoàn Văn Lôi)
    Trần Bất Cập ( cháu gái Trần Thủ Độ, Cận thị thự lục cục chi hậu, hầu vua Chiêu Thánh)
    Trần Thiêm ( Chi ứng cục thời Chiêu Thánh)
    Trần Cảnh ( Trần thái Tông, con Trần Thừa)
    Trần Bà Liệt ( con Trần Thừa)
    Mẹ của Trần Bà Liệt ( thôn nữ thôn Bà Liệt – huyện Tân Châu bây giờ)
    Công chúa Ngoạn Thiềm ( gả cho Nguyễn Nộn)
    Lưu Khánh Đàm ( tướng quân, Trần Lý dựa vào đây mà phát lên)
    Nguyễn Chính ( Tham tri chính sự thời Sảm)
    Phạm Ngu ( khuyên Trần Lý đón Thái tử Sảm, thượng phẩm phụng ngự thời Huệ Tông)
    Phạm Bố ( Thượng phẩm phụng ngự)
    Phùng Tá Khanh ( cha của Phùng tá Chu)
    Phùng Tá Chu ( thời Trần Thái Tông là Phụ quốc thái phó,Đại vương, tri phủ Nghệ An, 1242 mất, 1 nhân vật quan trọng của nhà Trần buổi đầu)
    Vương Lê ( tướng, từng bắt được Lý Huệ Tông)
    Nguyễn Cải ( tướng, từng bắt được Lý Huệ Tông)
    Nguyễn Mộc ( tướng)
    Phan Lân ( tướng, giúp Tô Trung Từ đánh Đỗ Quảng ở bến Đại Thông)
    Nguyễn Ngạnh ( tướng, giúp tô Trung Từ đánh Đỗ Quảng ở bến Đại Thông)
    Lại Linh ( tướng, thua trận Khoái Châu đánh họ Đoàn)
    Nguyễn Đường ( tướng Khoái Châu, bị họ Đoàn bắt ở trận Khoái Châu)
    Lưu Thiệu ( gia thần của thái tử Sảm, đi theo Trần Lý)
    Đào Phán ( tì tướng của Tô Trung Từ)
    Nguyễn Trinh ( tướng của Tô Trung Từ, Tự Khánh giết năm 1211)
    Đinh Khôi ( tướng đánh Hồng Châu cứu Nam Sách )
    Đàm Bật ( Tự Khánh sai dâng thổ vật, ko biết phải bà con Đàm Thái hậu ko?)
    Nguyễn Tá Thời ( 1220, coi việc ở Thẩm Hình Viện)
    Trần Báo ( quan nội hầu)

    Họ Phạm: con cháu Phạm Bạch Hổ, 1 trong 12 sứ quân và là danh tướng thời Đinh ( lập công trong cuộc chiến chống Tống lần 1). Tuy là 1 phe cực nhỏ, chỉ chăm chăm cố thủ giữ thân, nhưng họ cực khó nhau, từng đá văng họ Đoàn và cả họ Trần khi các phe này xâm lấn. Sau các tướng của phe này qua đời thì họ đầu hàng nhà Trần.
    Phạm Võ
    Phạm Dĩ ( 1219 mất)
    Hoàng Cá ( tướng, mất năm 1219)
    Nguyễn Lợi ( tướng)

    Họ Đoàn: nhiều thần tích thành hoàng miêu tả đây là 1 phe rất mạnh, thậm chí còn bốc phét họ rất trung thành với nhà Lý. Thực tế phe này vùng lên bạo loạn 4 năm sau khởi nghĩa Đại Hoàng ( 1207), đút lót Phạm Du, câu kết chiêu nạp “hào kiệt” để tăng cường thế lực trong triều lẫn dân gian. Nhưng họ Đoàn thực sự là 1 trong 3 phe mạnh nhất bấy giờ. Truyền thuyết kể Đoàn Thượng sử dụng đại đao, sức địch muôn người. Ông ta theo truyền tụng còn có 1 số quái tướng như Đô Thiết ( 1 nhóm ban đầu nổi loạn ở Tuyên Quang) thân cao 8 xích, sức cũng ngang ngửa. Rồi Man Công, Sùng Công, tương truyền ( hay tự phét) là thần song đầu thai, trung thành lẫn thơ văn, chiến trận đều ngon cả. Phe này chấp 1 lúc 2 phe còn lại, cuối cùng bị Nguyễn Nộn tiêu diệt.
    Đoàn Chủ
    Đoàn Thượng
    Đoàn Văn ( con Đoàn Thượng)
    Đoàn Ma Lôi
    Đinh Cẩm ( tướng của Đoàn Ma Lôi, bị Tự Khánh đánh bại 2 lần)
    Đoàn Nguyễn ( đánh Bắc Giang, mạnh mẽ hung hăng, bị Nguyễn Nộn giết)
    Đoàn Nghi ( phục binh đâm thủng giáp sắt Nguyễn Nộn)
    Đoàn Văn Lôi ( Hồng hầu, được gả con gái Trần Tam Nương)
    Đoàn Cấm ( hợp binh với Lý Huệ Tông, bị Nguyễn Nộn đánh bại)
    Vũ Hốt ( hợp binh với Lý Huệ Tông, bị Nguyễn Nộn đánh bại)
    Đoàn Trì Lỗi ( tướng giữ Nam Sách)
    Đoàn Khả Như ( tướng)
    Đô Kim ( legend, cha của Đô Thiết)
    Đô Thiết ( legend, con Đô Kim, thân cao 8 xích, sức vạn người, ở Tuyên Quang, sau theo Đoàn Thượng)
    Man Công ( legend, Câu Mang Nguyên súy, tài thi thơ, thần cai quản song Nghĩa Trụ, đầu thai làm con, thật ra là Đoàn Thượng, Đoàn Chủ)
    Sùng Công ( legend, Sùng Châu tướng quân, tài thi thơ, thần cai quản song Nghĩa Trụ, đầu thai làm con, thật ra là Đoàn Thượng, Đoàn Chủ)

    Họ Nguyễn: Ban đầu là Nguyễn Nộn, 1 cư sĩ bắt được vàng ngọc mà ko dâng vua nên bị Huệ Tông xử tội, Tự Khánh xin tha, cho đi cầm quân. Không ngờ về sau đây trở thành 1 trong 3 phe mạnh, tập hợp ngoài Nguyễn Nộn thì hầu hết là cựu tướng nhà Lý, thậm chí là bộ hạ nhà Trần tạo phản. Thái độ với họ Trần là lúc liên kết lúc đánh nhau, 1 nỗi dè chừng của Trần Thủ Độ. Đỉnh điểm là Nguyễn Nộn tận diệt họ Đoàn, trở thành thế lực cát cứ mạnh nhất trong nước, đe dọa nhà Trần mới dựng. Nhưng ông ta tự dưng chết bệnh ngay năm sau nên phe này ko đánh tự tan.
    Nguyễn Nộn ( cư sĩ, bắt được vàng ngọc mà không dâng, sau là leader, Hoài Đạo Vương)
    Nguyễn Tự
    Nguyễn Cuộc
    Đỗ Bị
    Pham Ma Lôi ( người Champa, Nộn nhận làm nô, có tài chủ động đánh thắng. Khi Nộn chết, lên ngựa bỏ đi đâu ko biết)
    Phan Lân ( cùng nguyễn Nộn đánh thắng Đoàn Cấm, Vũ Hốt)
    Nguyễn Đà La ( cùng Nguyễn Tự tham dự vụ đánh Huệ Tông)
    Nguyễn Giai
    Nguyễn Ma La ( con rể Nguyễn Giai, bị Nguyễn Trinh giết năm 1211)
    Tô thị ( vợ Nguyễn Ma La)
    Phan Cụ ( tướng, phản cùng Đỗ Bị)
    Châu Đình ( người Nghĩa Trụ, đem cả ấp theo Nguyễn Nộn)
    Nguyễn Doanh ( đại tướng)

    Phạm Bỉnh Di: 1 hoạn quan, chẳng biết nên gọi là trung thần hay gian thần. Trước vụ Phạm Du thì khá mờ nhạt. Ông ta từng tán đồng Lý Cao Tông xây nhiều cung điện ( thật ra vua hỏi thì quan thái giám sao dám cãi). Nhưng ông ta lại cầm quân bình phản loạn nhiều lần ( đánh họ Đoàn và đánh Phạm Du, chưa từng đụng Phí Lang lần nào) và đều đánh thắng. Tuy vậy ông ta bị Pham Du gièm pha rồi giết chết. Tùy tướng Quách Bốc giận quá làm binh biến, khởi đầu sự sụp đổ của nhà Lý. Ban đầu họ Trần hùa theo Quách Bốc nổi loạn, nhưng chẳng bao lâu sau thì nhận mật chỉ nhà vua, thôn tính luôn phe này.
    Phạm Bỉnh Di ( hoạn quan, Thượng phẩm phụng ngự)
    Phạm Phụ ( con Bỉnh Di, bị bắt giết cùng cha)
    Quách Bốc ( tướng của Phạm Bỉnh Di)
    Nguyễn Đường ( tướng Khoái Châu, bị họ Đoàn bắt ở trận Khoái Châu, sau định theo họ Nguyễn)

    Phạm Du: 1 hoạn quan ngang phẩm hàm với Phạm Bỉnh Di. Mới đầu nhận đút lót bao che cho họ Đoàn, sau mượn cớ xin vua vào Nghệ An rồi chiêu tập lực lượng, liên kết họ Đoàn, tính chuyện đen tối. Bị Phạm Bỉnh Di đánh gục nhanh chóng cả 2 phe, ông lại chạy về triều dèm pha hại chết Bỉnh Di. Quách Bốc vào kinh, ông dẫn Lý Cao Tông chạy lên nương nhờ họ Hà, bản thân định xuống gọi họ Đoàn “ phò thiên tử diệt phản nghịch” nhưng đang trên đường thì bị Nguyển Nải giết chết. Phe này chính thức tan rã, khởi đầu thời phân tranh.
    Phạm Du ( hoạn quan, Thượng phẩm phụng ngự)
    Phạm Kinh ( em trai Phạm Du)
    Ko rõ các quan viên ở Nghệ An ( sẽ liệt kê ở phần rebel) có theo Phạm Du hay ko.

    Nguyễn Bát: tước Ô Kim Hầu, sau loạn Quách Bốc làm 1 phe riêng, nhỏ nhưng cũng khá gân ko thua họ Phạm. sau bị nhà Trần quét.

    Nhà Lý:
    Lý Cao Tông
    Lý Huệ Tông ( Thái tử Sảm)
    Lý Thầm ( hoàng thái tử, sinh năm 1202)
    Lý Long Tường ( hoàng tử, sau chạy sang Triều Tiên)
    Lý Long Ích ( Kiến Ninh Vương, 1185 đàn áp ở Sách Linh)
    An Nhân Vương ( cùng Đàm Dĩ Mông đánh Tự Khánh)
    Nhân Quốc Vương ( anh em Lý Huệ Tông)
    Nguyễn Vương - Huệ Văn Vương ( con của Anh Tông, Trần tự Khánh từng lập làm vua, 1221 chết)
    2 Vương Tử ( anh em Lý Huệ Tông, con thứ 6 và 7)
    Lý Chiêu Hoàng
    Công chúa Thiên Cực
    Vương Thượng ( quan nội hầu, chồng Công chúa Thiên Cực )
    Công chúa Thuận Thiên ( sinh năm 1216)
    Đàm Thị ( An Toàn nguyên phi, rồi An Toàn hoàng hậu, rồi Đàm thái hậu, con Đàm Thì Phụng)
    Đàm Kinh Bang ( em thái hậu, sau cho dự triều chính)
    Doãn Tín Dực ( quan Nội Minh tự)
    Vũ Tán Đường (Tham tri chính sự)
    Trần Trung Tá (Gián nghị đại phu)
    Mạc Hiển Tích ( vụ án 1189)
    Nguyễn Đa Cẩn ( tướng của Long Ích, bị cắn)
    Ngô Lý Tín (Thượng tướng quân, sau làm Thái Phó, chết năm 1190)
    Cao Kha ( liệt hầu – quan hầu, bắn chạy quân Quách Bốc 1 lần)
    Đỗ Kính Tu ( Đế sư: thầy vua, sau tự sát)
    Đỗ An ( cùng Đàm Dĩ Mông xuống Nghệ An vụ Champa 1202)
    Bùi Quốc Khái
    Đặng Nghiêm
    Đàm Thì Phụng ( tướng quân)
    Đỗ Quảng (Thượng phẩm phụng ngự, 1210 đi đón Sảm)
    Đỗ Thế Quý ( Quan nội hầu, đi đánh họ Trần cùng Đỗ Quảng 1 lần)
    Đỗ Anh Triệt ( 1210 kể tội Đàm Dĩ Mông)
    Đỗ Anh Doãn ( quan nội hầu, đi đánh Phí Lang, 1210 bị Huệ Tông chém)
    Doãn Đình (1210 bị Huệ Tông chém)
    Nguyễn Nguyên (1210 bị Huệ Tông chém)
    Nguyễn Nhân (1210 bị Huệ Tông chém)
    Chiêm Linh thái hậu ( băng năm 1200)
    Lê Hòe Khanh ( sứ giả sang Tống 1 lần)
    Lê nương ( cung nữ họ Lê, rồng hiện ở gác Thánh Ngọ, dẫn cô ta đến ở đấy)
    Đàm Dĩ Mông
    Nguyễn Bảo Lương ( thù Đàm dĩ Mông, sau làm thượng tướng, 1203 cách tuột Dĩ Mông)
    Nguyễn Thường ( Tăng phó)
    Phạm Bỉnh Di ( hoạn quan, Thượng phẩm phụng ngự)
    Phạm Du ( hoạn quan, Thượng phẩm phụng ngự)
    Đỗ Thanh ( điện tiền chỉ huy sứ tri châu Nghệ An)
    Phạm Diên ( châu mục Nghệ An)
    Phú Lương ( lính bắn nỏ, Đàm Dĩ Mông lệnh cầm quân nỏ khi đánh Phí Lang)
    Phí Lệ ( tiểu thị vệ, viên hỏa đầu, cùng bọn Đỗ Quảng mưu đánh họ Trần)
    Trần Hinh ( chi hậu, nguyên soái, 1203 đi đánh Phí Lang thất bại)
    Từ Anh Nhĩ ( Thượng Thư, chết năm 1203 vì Phí Lang)
    Bảo Trinh ( 1209 đi đánh họ Đoàn)
    Trần Túc ( bề tôi được Lý Cao Tông yêu, nói phét mình làm nước dâng đầy ao được.)
    Nguyễn Dư ( bề tôi được Lý Cao Tông yêu, nói phét mình cấm được sấm)
    Phạm Bố ( Phụng Ngự, 1211 đi đón Trần thị Dung)
    Phùng Tá Chu ( thời Trần Thái Tông là Phụ quốc thái phó, tri phủ Nghệ An)
    Trịnh Ninh ( Thượng Phẩm Phụng Ngự)
    Lê Năng Trường ( chi hầu phụng ngự, đô quan lang trung vụ sư Tây Vực)
    Đặng Tú Phụ ( Tham tri chính sự)
    Cao Đường Long ( từng khuyên vua 1 lần)
    Nguyễn Vị ( thị vệ đô hỏa hầu, dụ hàng Phí Lang)
    Hộ Dực ( Thái Phó, bị bãi chức, thay bằng Đàm Dĩ Mông)
    Trịnh Đạo ( quan nhỏ, khóc khi Đàm Thái Hậu giết Nhân Quốc Vương và 2 Vương Tử)
    Vương Thường ( thị vệ hỏa đầu)
    Thân Trường ( đánh Nguyễn Nộn, bị giết)
    Thân Cải ( đánh Nguyễn Nộn, bị giết)
    Trần Hân ( quan Nội thị phán thủ, theo Đàm Thái Hậu tới cùng)
    Phạm Ân ( tướng)
    Nguyễn Tuyên ( quan Sĩ Sư ở huyện Thượng Lâm, bị giáng xuống Thư gia)
    Đặng Phân Thịnh ( con Nguyễn Tuyên, bị giáng xuống Thư gia)

    Rebel ( Trung lập hoặc khởi nghĩa lặt vặt):
    Lý Long Xưởng ( cựu thái tử, sau cầm đầu bọn gia thuộc đi trộm cướp)
    Lê Văn ( người châu Cổ Hoằng ở Thanh Hóa đoán điềm trâu trèo cây muỗm sẽ có tạo phản. Bị bắt giết năm 1192)
    Lâm Ấp ( Phí Lang nghe họ làm phản nên phản theo)
    Đà Mỗ Ấp ( Phí Lang nghe họ làm phản nên phản theo)
    Ngô Công Lý ( hương Cao Xá ở Diễn Châu – Nghệ An – rebel năm 1198)
    Nguyễn Phá Lân ( người ở động Trư, năm 1209 cùng bộ hạ lấy trộm kho công ở Đội Sơn.)
    Lê Mịch ( tướng quân ở huyện Yên Diên)
    Lý Bất Nhiễm ( Châu bá Nghệ An, đánh lui Champa năm 1216)
    Phan Thế ( tướng ở Phù Lạc, theo Lý Huệ Tông đánh Tự Khánh)
    Ngô Mãi ( tướng ở Bắc Giang, theo Lý Huệ Tông đánh Tự Khánh )
    Đỗ Năng Tế ( hào trưởng địa phương, giúp Trần tự Khánh lấy Binh Hợp năm 1214)
    Vũ Cao ( kép hát, từng tâu với hoạn quan Trịnh Ninh ao có thần)
    Nguyễn Nậu (hào trưởng Bắc Giang, giết Phạm Du)
    Nguyễn Nải (hào trưởng Bắc Giang, giết Phạm Du)
    Quan Sạn ( rợ Lão, thiêu hủy hành cung Ứng Phong)
    Đoàn Khả Liệt ( 1207 làm phản ở Quốc Oai)
    Vương Mãn ( 1207 làm phản ở Quốc Oai)
    Yêm Thụ ( người giữ thây Lý Cao Tông)
    Đàm Nhập ( tiểu thị vệ, bị Tô Trung Từ giết vụ đánh Huệ Tông)
    Ký Ban ( bị Đỗ Quảng giết vụ đánh Huệ Tông)
    Võ Lợi ( bị Đỗ Quảng giết vụ đánh Huệ Tông)
    Ngô Thưởng Vu ( người Cát Lợi, rebel bắn chết Nguyễn Tự)
    Võ Cao ( người Cát Lợi, rebel bắn chết Nguyễn Tự)
    Nguyễn Thuận ( ở Bắc Ninh, vua từng trọ)
    Trịnh Nông ( ở làng Đa Cảm, Bắc Ninh, vua từng trọ)
    Đào Niên ( động Chu Ma, vua từng trọ)
    Hoàng Ngũ ( ở núi Tam Trĩ, vua từng trọ)
    Nghĩa Tín Vương ( ở Diêu Đàm, định theo Nguyễn Nộn, bị Tự Khánh giết)
    Doãn Bá ( ở ngõ Thiên Cầm, vua từng trọ)
    Đỗ Tế ( tướng Hợp Ấp, bị Nguyễn Bát đánh chạy)
    Bạch Lãng (quan Minh Tự, ở Sơn Lão, làm liệt hầu)
    Đỗ Át (tướng, 1216 nổi dậy đánh Huệ Tông)
    Đỗ Nhuế (tướng, 1216 nổi dậy đánh Huệ Tông)

    Legend:
    Phan Công Tích (ở Sơn Nam, legend)
    Trần Thị Ước ( vợ Phan Công Tích, ở Sơn Nam, legend)
    Lê Thiện ( legend, con ông bà Tích và Ước, làm Tấu thư bác sĩ thời Huệ Tông, sau cáo quan về gọi là Hồi Tâm cư sĩ)
    Luyện Lễ ( giỏi thuốc, làm Viện trưởng viện thái y)
    Trần Thị Huyền ( vợ Luyện Lễ)
    Hoàng nương ( vợ sau Luyện Lễ)
    Luyện Kỳ ( con trai Luyện Lễ, tương truyền nằm mộng thấy rắn đen mới sinh ra, thời Trần Thái Tông làm Kỳ Chương lĩnh giá tiền thị vệ trung úy tướng quân. Trị hổ, lập công thời 1258)
    Đô Kim ( cha của Đô Thiết)
    Đô Thiết ( con Đô Kim, thân cao 8 xích, sức vạn người, ở Tuyên Quang, sau theo Đoàn Thượng)
    Man Công ( Câu Mang Nguyên súy, tài thi thơ, thần cai quản song Nghĩa Trụ, đầu thai làm con, thật ra là Đoàn Thượng, Đoàn Chủ)
    Sùng Công ( Sùng Châu tướng quân, tài thi thơ, thần cai quản song Nghĩa Trụ, đầu thai làm con, thật ra là Đoàn Thượng, Đoàn Chủ)
    Bảy anh em họ Lỗ ( legend, lập quân đánh Trần đển khôi phục nhà Lý)
    Nàng Bảy, em út trong 7 anh em họ Lỗ sau lập công 1258
    Thời đầu Trần Thái Tông:
    Nguyễn Bang Cốc ( Nôi Minh Tự, hoạn quan, 1231 đắp đê xong được thăng Phụ Quốc Thượng Hầu)
    Trương Hanh ( đệ nhất giáp)
    Lưu Diễm ( đệ nhất giáp)
    Đặng Diễm ( đệ nhị giáp)
    Trịnh Phẫu ( đệ nhị giáp)
    Trần Chu Phổ ( đệ tam giáp)
    Phạm Ứng Thần ( Thượng thư tri Quốc Tử Viện)
    Phạm Kính Ân ( Quan nội hầu, sau là đốc tướng)
    Lưu Miễn ( đệ nhất giáp)
    Vương Giát ( đệ nhất giáp)
    Ngô Khắc ( đệ nhị giáp)
    Vương Thế Lộc ( đệ tam giáp)
    Bùi Khâm ( thị thần)

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    0
    3. Vũ khí quân đội:

    Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê:

    Trong bài sớ của Tống Cảo dâng lên vua Tống trong một dịp đi sứ Đại Cồ Việt có nói: “Cuối mùa thu năm ngoài (tức năm 989)- chúng tôi là lũ Tống Cảo đến cõi giao Châu, Lê Hoàn đã sai lũ Đinh Thừa Chính làm Nha nội đô chỉ huy sứ. chở chín chiếc thuyền và 300 quân đến đón ở cửa biển Thái Bình... Đến Trường Châu (gần kinh đô) nước Nam: Lê Hoàn trang hoàng sẵn, đem hết cả thuyền chiến ra nói là “diễu quân”... Sĩ tốt độ 3.000 người. đều viết chữ vào trán là “thiên tử quân”, ngày lượng cấp thóc lúa cho, sai tự giã lấy mà ăn. Đồ tinh khí chỉ có: cunn nỏ, mộc bài, giáo gỗ, giáo tre, yếu ớt không thể dùng được . . .” 1 .

    ( nhưng cái lũ không dùng được đó đã dàn trận tay đôi đập chết quân Tống trong cuộc xâm lăng lần 1, chẳng hề dùng du kích gì cả.)

    Nhưng đây là thời mới lập quốc, tình hình trong nước còn lộn xộn, vua chúa thay liên tục nên chưa có điều kiện chu cấp cho quân đội cũng là dễ hiểu. Những miêu tả của người Tống, dù chất đủ sự khinh miệt, vẫn nói đúng phần nào tình hình ta lúc này.

    Thời Lý – Trần:

    Sự quan tâm của các vua Lý đối với trang bị quân đội được thể hiện qua những chi tiết sau:

    * Vua Lý Thái Tổ khi xây thành Thăng Long đã nghĩ ngay đến việc tăng cường tổ chức cấm quân và trang bị cho quân lính giữ thành.
    * Năm 1043. vua Lý Thái Tông “Xuống chiếu cho chư quân sắm sửa áo giáp và binh khí”.
    * Lý Nhân Tông, vị vua trị vì trong thời kỳ phạt Tống bình Chiêm, lúc hoà bình vẫn luôn mong sao có quốc phòng tốt để trong nước được trên hàn, ngoài biên không có giặc giã”. Và trước khi qua đời nhà vua không quên dặn Thái tử và các đình thần: “ Lại phải sửa sang giáo mác, đề phòng việc không ngờ”

    Huấn luyện:
    Cùng với Giảng Võ đường tức là nơi học tập lý luận binh pháp ở Thăng Long còn có trường bắn Xạ Đình, bãi tập hay trường đua. Ngoài đua ngựa, các tướng còn luyện tập và đọ tài cung kiếm ở đó. Về thủy chiến thì luyện trận nhỏ ở hồ Lục Thủy ( hồ Hoàn Kiếm, khi đó còn lớn, thông với sông Cái), luyện trận lớn ở Đông Bộ Đầu.

    Các loại vũ khí:

    - Cận chiến có gậy/ giáo/ mác/ gươm/ đao/ dao/ đoản kiếm./ câu liêm, thương, đinh ba,…
    - Vũ khí tầm xa có: cung/ nỏ/ nỏ nước/ mũi tên độc/ lao/ móc câu chùm,…
    - Công thành có máy bắn đá, thang vân thê, các phương pháp đào hầm,…
    - bẫy có bẫy chông, bẫy đá,…
    - hỏa khí có pháo, cầu lửa…
    Đương nhiên bạch khí ( vũ khí cận chiến như gươm giáo và tấn công tầm xa như cung nỏ) vẫn là phổ thông nhất.

    với tôi, thời nào đi nữa cũng nên ưu tiên 4 món hàng độc VN: giáo tre cho lính nhép, câu liêm cho lính thủy, nỏ và hỏa hổ cho lính xạ. Rồi mới thêm mấy thứ trên vào.

    3.1. Cận chiến:

    3.1.1. Gậy: Thương, trượng và nhất là gậy là những vũ khí thông thường, phổ biến trong quân đội và dân binh Đại Việt.

    Sứ giả Nguyên là Trần Phu từng nói rằng, ở Đại Việt mỗi khi có biến là trai tráng kéo ra ngay, khí giới đều do họ tự trang bị, có người còn vác cả cây gậy trơn. Trong một cuộc hành quân dẹp “giặc Ngưu Hống” ở tây bắc, tướng quân Phạm Ngũ Lão sai binh sĩ dùng gậy tre ngắn để phang vào chân voi, voi bị đau quay đầu chạy, vì thế đã hạn chế được thế mạnh tượng binh của đối phương. Sách Đại Việt sử ký toàn thơ có nói đến một đội đấu gậy trong cấm quân...


    3.1.2. Giáo/ mác: vũ khí đột kích bằng sắt, sắc và nhọn rất thông dụng. . Giáo thân ngắn, cứng, có gờ nổi cao ở giữa, hai lưỡi vát sắc cạnh và nhọn để đâm kẻ địch Chuôi giáo bằng gỗ hay tre; . Giáo có nhiều loại như: giáo có họng tra cán (hình búp đa, hình ngòi bút) và giáo có chuôi tra cán hình lá lúa hay có ngạnh). Quân nhà Lý trong khi đánh Tống, phạt Chiêm phần lớn đều cầm giáo chiến đấu. Trên chiếc thạp bằng sứ tráng men hoa văn thời Lý-Trần, ta thấy vẽ hình các chiến binh tay trái cầm giáo. tay phải cầm khiên tròn. Đó có thể là thứ vũ khí chủ yếu thời Lý-trần.
    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">

    đây là mũi tên đời Trần. Có thể ứng dụng để làm mũi giáo. Hình kế đây là giáo tre, món vũ khí truyền thống của quân khởi nghĩa và những loại quân cấp thấp Việt Nam:

    Dưới đây là giáo dài đời Lê - Trịnh:

    Còn dưới đây là các mũi giáo đời Tây SƠn ( để ý mũi giáo ngoài cùng, dài gấp 2,5 lần cây bút. Có nghĩa mũi giáo đó dài 25 cm, tương đương 1 lưỡi đoản kiếm):
    </div>
    </div>
    </div>

    Vua Lý Nhân Tông căn dặn Thái tử “phải lo sửa sang giáo mác...”. Đội cấm binh của Lý Anh Tông do quan Điện tiền Vũ Đái chỉ huy đã sử dụng giáo trong vụ bắt tên phản thần Đỗ Anh Vũ năm 1150. Lính thị vệ nhà Lý dã sử dụng giáo trong sự biến cung đình năm 1210.

    Năm 1044, nhà vua ra lệnh phát vũ khí trong kho cho quân sĩ trước khi lên đường đánh Chiêm Thành và cuộc chiến tranh đó được sử chép là: máu nhuộm gươm giáo, xác chất đầy đồng” chứng tỏ gươm giáo là những thứ vũ khí trang bị chính của quân đội nhà Lý.

    Một bài thơ của sứ giả nhà Nguyên là Trần Phu trong Sứ Giao Châu tập có câu: “Kim qua ảnh lý tâm đau khổ” (trông thấy bóng giáo mác sáng loè mà lòng đắng cay), với ngụ ý mỗi lần đi sứ sang Đại Việt trông thấy gươm giáo mà não nùng vì những trận chiến quân Nguyên đã thất bại trên chiến trường nước ta. Cũng giống như câu: “Nghe tiếng trống đồng tóc đốm hoa” . . , đó là hiện tượng “hội chứng” chiến tranh của người Nguyên thời ấy.

    Trong bài thơ Thuật hoài của tướng quân Phạm Ngũ Lão có câu: “Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu” (Cầm ngang ngọn giáo vì núi sông đã mấy mùa Thu).

    Trương Hán Siêu mô tả quân nhà Trần trong trận Bạch Đằng như sau: “Bấy giờ muôn dặm thuyền bè tinh kỳ phất phới, Sáu quân oai hùng gươm giáo sáng chói”... (Phú sông Bạch Đằng)


    Cây mác được bộ đội Việt Minh dùng thời đầu chống Pháp:


  4. #4
    Ngày tham gia
    Mar 2016
    Bài viết
    0
    3.1.3. kiếm/ đao/ dao găm/ đoản kiếm: Gươm và kiếm lưỡi dài. Thân gươm hơi cong, sống dày, lưỡi mỏng. Kiếm thân thẳng, dày ở giữa, hai lưỡi sắc. Chuôi gươm, kiếm bằng đồng, có thể được chạm khắc. Đã tìm thấy nhiều di vật vũ khí thời Lý ở Hà Nội và Thanh Hoá, trong đó có chiếc gươm dài 72cm, phần thân 59cm; chiếc kiếm dài 62,3cm, phần thân 62,3cm.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">Kiếm đời Hùng Vương:

    trường kiếm thời Lê-Trịnh ( dùng chung với khiên):

    Kiếm Tây Sơn( để ý có những cây kiếm vô cùng giống kiếm Nhật):


    kiếm đời Nguyễn:

    không rõ đời nào, các bác nên vô bảo tàng quân sự VN ở Hà Nội kiểm tra lại:



    </div>
    </div>
    </div>

    Các tướng lĩnh, võ quan thời Lý phần lớn đeo kiếm cưỡi ngựa trong chỉ huy chiến đấu. Năm 1022. khi dẹp vụ loạn ba vương”, Lê Phụng Hiểu đã dùng kiếm chém Vũ Đức Vương. Ông nổi tiếng là người "quăng dao, múa kiếm lừng danh”, được vua Lý Thai Tông ngợi khen là giỏi hơn cả Kính Đức vậy”. Một số tư liệu chưa kiểm chứng viết rằng thời Trần có sử dụng 1 loại đao to bản.

    Nếu xem qua phần về giáo mác, ta có thể thấy nó thường được đề cập kèm với gươm đao. Qua đó ta có thể hiểu là mức độ sử dụng giáo mác và gươm đao trong thời này là phổ thông ngang nhau, dù đương nhiên giáo mác có nhỉn hơn vì rẻ và dễ chế tạo hơn.

    3.1.4. Câu Liêm: 1 loại vũ khí khá giống kiểu trường đao của Quan Vũ bên TQ, nhưng lưỡi của nó trông như cái móc câu. Thứ vũ khí này khá tiện dụng, ko những dùng để chém như trường đao, mà còn thể dùng để móc ( Phàn Tiếp bị câu liêm móc, bị bắt sống), dùng chặt dây buộc thuyền. Đây là 1 vũ khí khá tiện lợi cho thủy quân.






    3.1.5. Đinh ba: là thứ vũ khí rất phổ biến trong dân gian, cách chế tạo đơn giản dễ sử dụng, chỉ gồm ba mũi đinh nhọn, ở giữa cao hơn. Có địa phương gọi đó là cái xỉa, có tra cán, dùng để đâm. Thứ này thời Pháp xâm lược cũng ghi nhận quân Nguyễn sử dụng món này, sau khi đâm được ai thì cứ thế lôi luôn họ đi.

    3.2. Tấn công xa:

    3.2.1. Cung/ nỏ:
    Cung nỏ là loại vũ khí truyền thống của quân đội nước ta ngay từ buổi đầu dựng nước và giũ nước. Phép cưỡi ngựa bắn cung có ở nước ta từ lâu đời. Thời Lý ở kinh thành Thăng Long có Xạ Đình, tức bãi tập bắn. Sử chép: vua (Lý Anh Tông - 1170) tập bắn và cưỡi ngựa ở phía nam thành Đại La gọi là Xạ Đình, sai các quan võ hàng ngày luyện tập phép công chiến, phá trận” 1.

    Thời Lý. việc cưỡi ngựa, sử dụng cung kiếm là yêu cầu bắt buộc đối với các vương hầu, võ quan, tướng lĩnh triều đình. Bấy giờ, ở kinh thành có Điện Giảng Võ, có bãi tập và trường đua ngựa. Quan Thái uý Lý Tự Khánh nổi tiếng có tài bắn cung.

    Trong các chiến trận lớn đánh quân Chiêm Thành và đánh quân Tống xâm lược, quân Lý sử dụng nhiều cung nỏ để tiêu diệt địch. Các đội quân của những thủ lĩnh dân tộc đã dùng nỏ, bẫy đá mai phục ở những nơi hiểm yếu, khiến quân Tống rất kinh sợ. Trong trận vây đánh thành Ung Châu, quân ta đã dùng tên độc bắn lên thành, người và ngựa quân Tống chết rất nhiều. Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn khuyên các tướng phải “huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”.

    hiện tại thì ta chỉ còn biết loại nỏ thô sơ nhất, của dân tộc miền núi:



    Đáng tiếc là thời này kỹ thuật chế tạo Liên Nỏ ( nỏ lớn, 1 phát bắn nhiều mũi tên, là thứ được gọi là Linh Quang Kim Trảo trong truyền thuyết, đây vốn là loại nỏ có thật, TQ có ghi chép được) đã bị thất truyền nên ta mất đi một loại vũ khí tầm xa độc đáo. Dưới đây là hình dạng của nó mà người TQ ghi chép và sử dụng:







    3.2.2. mũi tên tẩm thuốc độc: là vũ khí lợi hại của quân đội Đại Việt. Sử chép về chiến công của các đội quân cung nỏ thời Trần năm 1285 như sau: “Lý Hằng đem quân hộ tống Thoát Hoan chạy về Tư Minh. Quân ta lấy tên độc bắn trúng vào gối bên tả của Hằng, Hằng chết. Tuỳ tướng là Lý Quán thu nhặt 5 vạn quân còn lại lấy đồ đồng dấu Thoát Hoan vào trong để trốn về Bắc. Đến Tư Minh, Hưng Vũ vương đuổi theo dùng tên thuốc độc bắn trúng, Lý Quán chết, quân Nguyên tan vỡ” 1. Tên Việt gian Trần Kiện không thể thoát khỏi mũi tên độc của gia nô của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô ở Ma Lục (Lạng Sơn). Nguyên sử nói rằng, trong trận Bạch Đằng (1288), quân Trần “bắn tên như mưa”, gây nhiều tổn thất cho chúng.

    Đến tận thời Pháp đánh Hải Phòng còn ghi nhận việc họ bị tấn công bởi một loại tên lửa ( mũi tên gắn ống phóng thuốc nổ, chủ yếu thuốc dùng để phóng cho tên bay xa mà thôi, sát thương vẫn dựa vào mũi tên sắc nhọn.), họ ghi lại rằng nếu trúng tên sẽ không thuốc gì chữa được. Qua đó ta đủ thấy mức độc tính của tên độc nước ta khủng khiếp thế nào.

    3.2.3. Nỏ nước: Sứ giả Trần Phu đời Nguyên đã từng ghi chép thứ vũ khí lạ lung này trong chuyến đi sứ nước ta. Theo ông mô tả, thứ nỏ này gọi là " xá sa", không bắn tên mà bắn một thứ nước hồng. Bất cứ ai, nếu bị trúng thứ nước này phải lập tức dùng dao cắt bỏ ngay phần da thịt tiếp xúc với nước, nếu không sẽ bị hoại tử lan dần ra và chết. Nhiều khả năng cái gọi là " thủy nỏ" thực chất chỉ là ống thổi phi tiêu độc.



    3.2.4. Lao: Tre, gỗ chắc vót nhọn (có thể bịt sắt) trở thành cây lao, cũng là thứ vũ khí phổ biến, dễ chế tạo. Phóng lao (ném thủ tiễn) là một sở trường của quân sĩ nhà Trần. Lao có hình dáng như mũi tên cánh lớn và có họng tra cán. Trong quân đội Đại Việt có môn thi phóng lao. Đó là những vũ khí truyền thống, đơn giản và dễ trang bị cho quân đội và dân binh.
    Sử Tống ghi nhận quân dân tộc của Nùng Trí Cao hầu hết dùng lao và khiên. Về sau, Liễu Thăng đời Minh cũng bị lao sắt của ta ném chết.

    3.2.5. Móc câu chùm: hình dáng như chiếc mỏ neo, có 3 móc hình lưỡi câu; cán có lỗ để buộc dây, chủ yếu do thủy quân sử dụng, dùng để kéo, nối vào thuyền giặc.


    3.3. Công thành:

    xem lại mục các loại máy trong topic về chiến dịch chống Tống 981:

    http://www.lichsuvn.info/forum/showp...84&postcount=6

    3.3.1. Máy bắn đá:
    đã nói ở phần trước.

    3.3.2. Thang Vân Thê: trong trận đánh thành Ung Châu. quân ta đã dùng “vân thế” (thang chuyền nối nhau rất cao) để trèo lên mặt thành rồi dùng tên độc và hoả tiễn” (bắn chất cháy) để tiêu diệt và dốt trại giặc.

    3.3.3. Đào hầm: Quân ta còn đào đường hầm, dùng da lót cho kín nước để chui vào thành và cuối cùng ta dùng hàng vạn bao chứa đất xếp chồng thành bậc thềm để quân sĩ leo lên. Nhờ đó quân ta đã hạ được thành Ung sau 42 ngày chiến dấu ác liệt.

    3.4. Bẫy:
    Bẫy đá/ chông sắt

  5. #5
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4

    cung tên VN tới giờ chưa có hình ảnh gì khác ngoài loại cung đơn thô sơ do... dân thường sử dụng.

    3.5. Hỏa khí:

    Nguyên sử, phần An Nam truyện có chép việc sử dụng pháo của quân nhà Trần. Sự kiện đó diễn ra vào tháng 2-1285, khi quân Nguyên tiến đến gần Đông Bộ Đầu, đóng ở bên kia sông Nhị, chuẩn bị tiến công vào Kinh thành Thăng Long, thì quân ta do vua Trần chỉ huy từ bên này sông đã “bắn pháo hô to, thách đánh” (nguyên văn của Nguyên sử là: Phát pháo đại hô cầu chiến). Tuy nhiên, đó mới chỉ là sử liệu duy nhất phản ánh về hoả khí của quân đội Đại Việt thế kỷ XIII. Theo cảm nhận bản than thì pháo nhắc ở đây rất có thể chỉ là pháo hiệu ra quân mà thôi.

    Nhưng ngược lại, chất cháy, cầu lửa bằng nhựa thông thì thủy quân ta đã sử dụng từ lâu để làm bè lửa, cầu lửa đốt tàu chiến của địch. Còn về hỏa khí thực thụ thì phải đợi đến nửa sau thế kỷ XIV mới được ghi nhận rõ ràng việc sử dụng nó để chiến đấu. Đó là hai sự kiện dùng súng bắn chết Chế Bồng Nga và Hồ Nguyên Trừng đúc súng Thần Cơ.

    Ta trong thời này cũng bắt đầu học hỏi rất nhiều từ kỹ thuật chế tạo hỏa khí của TQ, nước ngoài. Việc này tiếp tục kéo dài sang cả đời Minh. Trong Binh Thư Yếu Lược bản còn truyền đến ngày nay, những tác giả thế hệ sau Trần Hưng Đạo đã hiệu đính thêm vào tác phẩm này rất nhiều loại hỏa khí. Đa số trong chúng đều được các dân tộc Trung Hoa, Triều Tiên, thậm chí Nhật Bản sử dụng. VD loại trâu lửa ( trâu tẩm dầu và thuốc nổ) được người TQ từng sử dụng, tên lửa chùm mà người Triều Tiên dùng đánh giặc biển, hay cả quả mù khói đọc thậm chí từng được truyện Ninja Loạn Thị đề cập đến,… tất cả chúng đều được liệt kê chi tiết trong tác phẩm.

    3 món vũ khí dưới đây được tạo ra đầu tiên bởi người TQ vào cuối đời Nam Tống và chỉ được người Việt sử dụng sớm nhất cũng phải là 100 năm sau giai đoạn ta đang nói ở đây, nhưng thôi, tôi ghi vô luôn:

    3.5.1. Hỏa Hổ:

    cái ống tre đực dày, nhồi thuốc nổ và miểng chai, khi sắp xáp lá cà với giặc thì bắn 1 phát rồi...liệng, tiếp theo là cầm gươm xáp vào chém. Dưới đây là hỏa hổ do quân Nam Tống đời cuối sử dụng ( phát minh ra khi sắp chết về tay Mông Cổ):



    3.5.2. Hỏa Đồng:



    chính là hỏa hổ, khác biệt duy nhất là dùng ống đồng nên có thể nhồi thuốc bắn nhiều lần chứ ko chỉ bắn 1 phát rồi phải bỏ như hỏa hổ.

    http://upload.wikimedia.org/wikipedi...o_t%C6%A1i.jpg
    cung tên VN tới giờ chưa có hình ảnh gì khác ngoài loại cung đơn thô sơ do... dân thường sử dụng.

    3.5.2. Hỏa thương:
    là cây giáo được buộc hỏa đồng hoặc hỏa hổ trên đó. Có thể bắn trước khi đâm. Dưới đây là hình quân Nam Tống thời mạt vận, 1 số dùng hỏa thương:



    Hỏa hổ và hỏa đồng là 2 món hỏa khí thông dụng của người Việt, được dùng nhiều nhất và hiệu quả nhất, gây tiếng vang nhất dưới đời Tây Sơn.

    về hỏa khí, nên tham khảo binh thư yếu lược, dù đây là bản đời Lê - Trịnh, đã thêm rất nhiều chi tiết, nhất lã chủng loại hỏa khí tăng lên rất nhiều:
    http://www.quansuvn.net/index.php/topic,206.0.html

  6. #6
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    159
    BIÊN CHẾ QUÂN ĐỘI LÝ – TRẦN

    Về cơ bản, thời Lý chia quân theo những đơn vị như sau:

    1 Đô = 100 người
    1 Vệ = 200 người

    Trong khi đó, thời Trần lại chia quân thế này:
    1 ngũ = 10 - 20 người – đứng đầu là “ đầu ngũ”
    1 đô = 5 ngũ = 50 - 100 người – đứng đầu là chánh hoặc phó đại đội
    1 quân = 30 đô = 1500 - 3000 quân – đứng đầu là đại tướng quân.

    ( số người được biên chế trên không bảo đảm chính xác, vì nhiều nguồn khác nhau ghi con số khác nhau. VD có sách chép thời Trần: 1 ngũ = 5 người, 1 đô = 10 người).

    Quân đội Lý - Trần có khá nhiều, nhưng tổng kết thì nó bao gồm 2 mảng lớn. Mảng thứ nhất là loại quân chịu sự điều động của chính quyền nhà nước, mảng thứ hai là loại quân có một vị thế độc lập ở mức độ nào đó so với chính quyền.

    I. CÁC LOẠI QUÂN THUỘC TRIỀU ĐÌNH:

    Có 3 loại quân chính thức, đặt dưới sự điều động của triều đình Lý – Trần, đó là:
    - Cấm quân: quân cấm vệ.
    - Lộ quân: quân địa phương.
    - Dân binh: dân tự vũ trang để bảo vệ làng xóm của mình.

    I.1. Cấm quân:

    Như chúng ta đã từng biết qua lực lượng cấm quân đời Đinh – Tiền Lê. Cấm quân đời Lý – Trần cũng tương tự thế. Họ là những chiến binh tinh nhuệ nhất, được tuyển chọn gắt gao trong con em quan lại và dân chúng. Mỗi cấm quân thích chữ “ Thiên tử binh” ( lính của thiên tử) lên trán. Họ được triều đình, mà cụ thể là chính nhà vua cấp pháp lương bổng, vũ khí, quân trang. Họ hoàn toàn không phải làm một điều gì cả ngoài luyện tập những kỹ năng chiến đấu và canh gác bảo vệ nhà vua, bảo vệ kinh thành cùng một vài vị trí hành chính quan trọng trong nước. Hiểu đơn giản, họ là đội quân riêng của ông vua và chịu sự điều động trực tiếp từ ông ta hoặc một số rất ít tướng lĩnh tâm phúc mà ông ta tin cậy đến mức giao cho quyền điều khiển. Khác biệt chủ yếu giữa Cấm quân đời Lý – Trần so với đời trước có lẽ là độ tinh nhuệ và số lượng, do kinh tế ngày càng phát triển hơn xưa. Như đã biết, nhà vua đã xây dựng ở Thăng Long khu Giảng Võ Đường để dạy binh pháp, Xạ Đình để luyện cưỡi ngựa bắn cung, luyện thủy chiến ở Đông Bộ Đầu và hồ Lục Thủy. Kỵ binh, mà đặc biệt là kỵ binh cưỡi ngựa bắn cung là một đặc điểm đáng chú ý trong Cấm quân, vì nhà Lý – Trần quy định con em các quan lại phải luyện tập món này. Bản than Lý Thường Kiệt đã bắt đầu sự nghiệp bằng chứ Kỵ Mã Hiệu Úy, chỉ huy một đội kỵ binh trong lực lượng Cấm quân này.

    Về số lượng, ghi nhận được là đời Lý, Cấm quân khoảng 3200 người nên có lẽ họ cũng không đóng vai trò gì lớn trong các cuộc chiến tranh ngoài bảo vệ kinh thành và nhà vua. Nhưng vào đời Trần, bằng việc thu nhận thêm một số đội Lộ quân vào lực lượng Cấm quân:

    Ví Dụ:

    1246, Vua Trần Thái Tông ban lệnh:
    - quân các lộ Thiên Trường, Long Hưng nhập vào quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh, Củng Thần.
    - quân các lộ Hồng Châu, Khoái Châu nhập vào quân tả hữu Thánh Dực.
    - quân các lộ Trường Yên, Kiến Xương nhập vào quân tả hữu Thánh Dực.
    Hoặc như năm 1267, vua Trần Thánh Tông lập them Toàn Kim Cương đô, Chân Thượng đô, Chân Kim đô, Cấm Vệ Thủy Dạ Xoa đô.
    Nhờ sự tăng cường không ngừng này ( có lẽ là để đối phó với quân Mông Cổ) nên thời Trần, quân Cấm Vệ tăng đến gần 20 000 người, chia thành 8 quân, thực sự trở thành linh hồn của quân Việt trong 3 cuộc chiến tranh. Vua Trần trực tiếp chỉ huy đội quân này, hoặc giao nó cho một số rất ít người mà ông ta tin cậy. Một trong những người đó mà ta biết được là Trần Quốc Tuấn và Phạm Ngũ Lão.



    I.1. Lộ Quân – quân địa phương:

    Nếu Cấm quân là linh hồn của quân đội Đại Việt thì đây là lực lượng xương sống, có số lượng đông đảo và đóng vai trò quan trọng nhất trong hệ thống quân đội Lý – Trần. Nếu Cấm quân phụ trách bảo vệ nhà vua, kinh thành và vài vùng trọng yếu thì Lộ quân phụ trách bảo vệ tất cả các vùng lãnh thổ còn lại. Đây Là một hình thức quân đội chính quy được xây dựng dựa trên sự cải tiến hình thức quân Thập Đạo ( dân tự vũ trang) thời Tiền Lê về trước. Nếu đã đọc bài về biên chế quân đội Đinh – Tiền Lê, ta sẽ thấy ngay sự sơ sài và nhược điểm của quân Thập Đạo, đó là:

    - binh lính không chuyên nghiệp, thực chất chỉ là dân chúng bị buộc tự vũ trang, thậm chí họ hầu như chưa từng được luyện tập chiến đấu và cũng không được trả lương.
    - không có sự phân biệt người mạnh người yếu, chỉ là sự bắt lính hàng loạt.
    - khi có chiến tranh, toàn dân bị điều động đi lính, thành ra không ai chăm nom ruộng nương, dẫn đến nạn đói. Chính Lê Hoàn, sau 2 chiến công liên tục trước nhà Tống ( 981) và chinh phạt Champa ( 982) khi khải hoàn về liền đối mặt với trận đói to trong nước.

    Vậy phải làm sao để xây dựng được một lực lượng quân đội vừa chuyên nghiệp hơn quân Thập Đạo, vừa bảo đảm quân số đông đảo nhưng lại không khiến đất nước rơi vào nạn đói do mất đi nguồn lao động cày cấy? Và từ đó, hình thức Ngụ Binh Ư Nông nổi tiếng ra đời. Nó vận hành như sau:

    Đầu tiên, nhà nước lập sổ đinh ( sổ về nam giới) trong cả nước. Sau đó, họ dựa trên tuổi tác và sức khỏe của mỗi người mà sắp họ theo thứ bậc từ trên xuống ( từ khỏe đến yếu). Những người ở tuổi 18 – 20 sung sức khỏe mạnh được liệt vào hạng đại hoàng nam ( hạng tốt nhất). Từ số đại hoàng nam lọc ra được này, họ sẽ tuyển chọn một lực lượng dân đinh trở thành Lộ quân ( ước tính thời Lý khoảng 7 – 80 000 người). Số người được chọn làm Lộ quân sẽ hoạt động theo chế độ Ngụ Binh Ư Nông, cụ thể như sau:

    - toàn quân trong một năm chia ra nhiều phiên ( gọi nôm na là… ca trực). Mỗi người lính chỉ cần đi lính theo đủ thời gian phiên của mình mà thôi.
    - Trong thời gian đi phiên, người lính Lộ quân phụ trách các việc như luyện tập, canh gác, tuần tiễu,… và thường, chỉ trong thời gian đi phiên họ mới được phát lương.
    - Phần lớn thời gian còn lại trong năm, không phải đi trực, người lính đó về nhà …tự cày ruộng mà ăn cho đến phiên trực kế. Trong thời gian ở nhà, nhà nước không cấp phát một xu nào, nhưng bù lại, họ ra lệnh cho các làng nơi người lính ấy sinh sống phải cắt thêm cho anh ta một diện tích ruộng nhất định từ số ruộng công ( ruộng nhà nước; hoặc ruộng của chung cả làng, thường hoa lợi cày cấy trên nó dung để chi trả mấy việc công ích như xây đình chùa này nọ) trong làng để anh ấy cày cấy mà ăn. Một kiểu bù đắp lại.

    Nhờ chính sách này, nhà nước có thể tạo ra một đội quân với số lượng đông và tính chuyên nghiệp cao hơn quân Thập Đạo ngày xưa ( do thường xuyên luyện tập theo phiên trực), trong khi đó không phải nuôi quá nhiều quân một lúc ( trong cùng 1 thời gian chỉ trả lương những người trong phiên trực đó), lại luôn bảo đảm có một lực lượng đông đảo tham gia cày cấy trong cả nước. Đất nước cũng không còn gặp cảnh “ toàn dân đi lính rồi đói to” hoặc “ toàn quân…về nhà rồi đất nước vắng bóng lính tráng”. Ngụ Binh Ư Nông, nhờ thế, là một sáng tạo hay, được áp dụng đến tận nhà Nguyễn.

    Theo ghi chép, năm 1161, vua Lý Anh Tông sai đô tướng Tô Hiến Thành và phó tướng Đỗ An Di đem 2 vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây Nam để giữ yên bờ cõi xa. Giả sử đó là toàn bộ số Lộ quân trong phiên trực lúc đó, và một năm có bốn phiên trực ( giả sử thôi), thì tổng số quân Ngụ Binh Ư Nông sơ sơ cũng chừng 7 – 80 000 người.

    Cũng bởi chính sách Ngụ Binh Ư Nông mà nhà Lý – Trần tiến hành việc làm sổ đinh, chia hạng đinh ( 1239, Trần Thái Tông chia đinh cả nước thành ba bậc thượng/trung/hạ) vô cùng gắt gao. Việc bảo đảm minh bạch số lượng dân đinh luôn được quan tâm. Đặc biệt là nhà Lý cấm tuyệt đối việc mua bán con trai làm nô lệ cũng vì lý do này ( nhằm tránh thất thoát số đinh trong nước. Còn con gái huh? Vô tư.).

    I.3. Dân binh:

    Các vị trí trọng yếu thì Cấm quân bảo vệ. Các vùng đất cùng lại thì Lộ quân phụ trách. Vậy những làng mạc, thôn xóm lặt vặt trong cả nước được bảo vệ bởi ai? Lộ quân ư? Không! Đó là những người dân sở tại tự vũ trang và lo liệu lấy ( có thể hiểu là “dân quân tự vệ”). Ta thường nghe tới dân binh qua 1 cái tên gần gũi hơn là “hương binh” hoặc “ hương dũng”.

    Những trai tráng trong xóm làng, nhưng không đủ mạnh khỏe hoặc mạnh khỏe nhưng không phải đi lính Ngụ Binh Ư Nông ( do nhà nước đã có đủ quân). Những người này được nhà nước xếp vào hạng quân dự bị, chỉ khi chiến tranh lên cao trào mà quân số Ngụ Binh Ư Nông không đủ dùng nữa thì sẽ gọi thêm họ ra hỗ trợ. Có thể xem những người này là tàn dư còn lại của quân Thập Đạo ngày xưa. Tuy vậy, ngay cả thời bình, mỗi làng vẫn cần có lực lượng tự vệ của riêng nó. Thế là một số đàn ông trong làng mà không phải đi lính Ngụ Binh sẽ tự sắm sửa vũ khí ( thường là thô sơ, giáo tre chẳng hạn) và đảm trách nhiệm vụ làm những chú bảo vệ giúp làng mạc tránh khỏi cướp bóc. Những người này được gọi là “dân binh”, “hương dũng”. Ngoài nhiệm vụ chính là bảo vệ làng mạc, đôi khi họ cũng sẽ đóng góp ở một mức độ nhất định trong cuộc chiến chống ngoại xâm. VD như năm 1285, trong chiến dịch giải phóng Thăng Long, triều đình đã được rất nhiều đội dân binh thế này tiếp ứng.

    Tuy thế, dân binh và quân dự bị vẫn là lực lượng kém tinh nhuệ nhất trong hệ thống quân đội. Đơn giản vì họ không được luyện tập, mọi thứ đều phải tự trang bị lấy, thậm chí là tự tổ chức lấy đội ngũ để chiến đấu.


    * BONUS: QUÂN DŨNG NGHĨA – LOẠI QUÂN ĐẶC BIỆT.


    Dũng Nghĩa chứ không phải Nghĩa Dũng. Đây có thể gọi là đội quân mạnh nhất của Đại Việt, nhưng cũng là góc khuất tối nhất ít người muốn nhắc đến. Họ chính là những trộm cướp, bần cố nông, nói chung là cùng đinh tận đáy xã hội người ta vứt ra lề đường. Chính quyền hoặc các vương hầu hoàng tộc đã thu gom một số trong họ, cấp lương bổng và cho hưởng chế độ huấn luyện ngang hàng với cả quân Cấm vệ. Họ là lực lượng tinh nhuệ nhất, tồn tại với một nhiệm vụ duy nhất: làm những người lính cảm tử cuồng tín, được dùng vào những tình huống quan trọng nhất để tạo các đột phá trên chiến trường. Trong Trận Bạch Đằng 1288, chính một đội quân Dũng Nghĩa thế này đã nhận nhiệm vụ cố đánh chặn đoàn thuyền Nguyên đang rút về nước, nhằm câu giờ cho quân dân ta xây xong bãi cọc. Họ cũng tham gia cuộc tiêu diệt hạm đội Nguyên đã vướng cọc. Nói chung, trong trận này, quân Dũng Nghĩa lập công to nhưng thiệt hại nặng nề.


    Nước triều xuống, thuyền giặc vướng cọc. Nguyễn Khoái đem quân Thánh Dực Dũng Nghĩa đánh nhau với giặc.
    Ý tưởng về quân Dũng Nghĩa lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1073, do nhà Tống áp dụng ở Quảng Đông ( chỉ vài năm trước khi cuộc kháng chiến chống Tống lần 2 bùng nổ), và sau đó đã được người Việt áp dụng lại và đạt hiệu quả như ta thấy.Chính trong Binh Thư Yếu Lược, Trần Quốc Tuấn cũng rất tán đồng việc sử dụng loại quân này. Cho đến tận 1406 đời Hồ Hán Thương, vẫn còn nghe chép rằng


    “ chiêu mộ những người vong mệnh làm quân Dũng Hãn, đặt các chức thiên hộ, bách hộ để cai quản.”
    Hình ảnh về những đội quân vô danh, đóng vai trò lớn trên chiến trường nhưng vì một số lý do ( đơn giản họ bị xem và vết nhơ của quân đội) không ai muốn kể đến họ trong ngày chiến thắng là một hiện tượng có thực. Những hình ảnh như vậy trong phim ảnh và game ngày nay ( điển hình là Spartan II trong series Halo) không phải hoàn toàn là sự sáng tạo mà có một phần dựa trên sự thật của lịch sử quân đội loài người.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    II. CÁC LOẠI QUÂN ĐỘC LẬP:

    Đây là những loại quân không chịu sự điều động trực tiếp của triều đình, cũng không phải do triều đình tạo ra. Nó được duy trì bởi một số cá nhân có quyền lực trong chính quyền, chịu sự điều động của họ, nói cách khác, là “quân riêng” của họ.

    Có 2 loại quân được ghi nhận:
    - Quân Vương Hầu.
    - Quân dân tộc thiểu số

    II.1. Quân Vương Hầu:


    Những người thuộc dòng dõi hoàng tộc tự đứng ra chiêu mộ cho mình một đội quân riêng theo kiểu quân hộ vệ cho bản than. Thành phần tham gia có thể là những dân chúng mếm mộ mà theo về, hoặc đơn giản chính là các gia nô, quân hầu phục vụ cho họ hằng ngày. Mức độ tinh nhuệ và trang bị của các đội quân riêng này tùy theo hầu bao và thói quen chiến đấu, sự chăm chỉ luyện quân của chủ tướng. Trong phòng tuyến sông Như Nguyệt 1079 thời Lý, 2 hoàng tử Hoàng Chân, Chiêu Văn đã lãnh đạo 2 đạo quân riêng do chính họ lập ra ( nuôi ăn, trang bị, cấp cả thẻ bài) và tử trận toàn bộ. Thực tế là quân riêng tồn tại suốt lịch sử phong kiến Việt Nam, nhưng Quân Vương Hầu nhà Trần là lần duy nhất nó nổi tiếng và tỏa sáng ( Ngô Sĩ Liên công nhận đóng góp của quân Vương Hầu trong 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông là “ nhờ sức gia nô các vương hầu nhiều lắm.”).

    Vậy sự khác biệt giữa quân Vương Hầu và quân Riêng mà các thủ lĩnh địa phương thời Đinh – Tiền Lê thành lập là gì? Chỉ khác biệt duy nhất ở thân phận chức tước người chủ của nó. Có lẽ do tính quân chủ tập trung ngày càng cao về sau, từ thời Lý trở đi, không còn nghe thấy nói về những vị quan, tướng nào tự thành lập quân đội cho mình cả ( nếu có cũng chỉ là… quân nổi loạn). Vị tướng đứng ra lập quân riêng về sau ta biết có Hoàng Ngũ Phúc, nhưng đó là chuyện thời...Lê - Trịnh. Các trường hợp được ghi nhận đều là các vương hầu, tức mang dòng máu hoàng gia. Có lẽ việc xây dựng quân riêng đã bị ngăn cấm và trở thành đặc quyền duy nhất của các thành viên hoàng tộc, nhằm bảo đảm tránh những nội loạn.

    Về quân số, ngay cả thời Trần là đỉnh cao của quân riêng thì quân số mỗi đạo quân loại này cũng không nhiều như ta tưởng. Ngay trước khi cuộc kháng chiến chống Mông Cổ lần 1 xảy ra, triều đình đã từng ra lệnh mỗi vương hầu chỉ được tối đa chiêu mộ 1000 quân làm quân riêng mà thôi. Đương nhiên số vương hầu thời Trần rất nhiều, nên tổng các đạo quân riêng này có thể lên đến vài chục ngàn.

    II.2. Quân dân tộc thiểu số:

    Cho đến trước thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, các vùng núi non trung du Bắc bộ của Việt Nam vẫn còn là vùng tự trị của các dân tộc thiểu số. Mỗi vị tù trưởng như một ông vua có toàn quyền cai trị buôn làng và lãnh địa của mình, nhưng thần phục vua chúa Việt Nam. Quân dân tộc thiểu số do đó, như là toàn bộ lực lượng chiến đấu của cái lãnh thổ tự trị mà vị tù trưởng đó huy động được. Thành phần có thể bao gồm từ quân riêng mà ông ta nuôi nấng huấn luyện, đến những người dân bình thường phải tự trang bị lấy để theo quân ra trận. Tuy thế, quân dân tộc là một lực lượng đáng gờm kể cả với vua chúa Việt Nam lẫn quân xâm lược Trung Quốc.

    Vị lãnh tụ dân tộc thiểu số nổi tiếng là Nùng Trí Cao, năm 1041. Muốn tạo lập một quốc gia riêng ở vùng trung du Bắc Bộ và nam Quảng Tây bây giờ, ông ta đã cùng mẹ khởi nghĩa. Đội quân dân tộc này theo ghi nhận của nhà Tống, được trang bị hầu hết là khiên và lao phóng, rồi giáp da voi, song kiếm, cung tên, kỵ binh,….

    Đoạn trích dưới đây về quân đội Nùng Trí Cao, lấy từ bài nghiên cứu “ Nùng Trí Cao và dân tộc Choang”, trích trong cuốn Journal of Southeast Asian Studies, Vol. XVIII, No. 2, September 1987.


    Sự giàu có và và lòng say mê vũ thuật của người Choang đã biến họ thành các đối thủ đáng nể sợ. Đàn ông Choang dắt bên mình cả kiếm dài lẫn kiếm ngắn. Áo giáp che chắn cho voi dầy đến ½ phân Anh (inch) được sản xuất từ phía nam. Vũ khí bao gồm hai loại cung thông thuờng, một loại dài 6 bộ Anh (feet) chỉ có thể dương cung bằng chân, và loại kia dài bằng phân nửa loại trước. Tre và thông được dùng để chế tạo một loạt các mũi tên đặc chế thường được tẩm thuốc độc. Nhược điểm của người Choang nằm ở bộ phận kỵ binh. Khu vực là một trung tâm mua bán ngựa và đã có các đơn vị được trang bị chuyên biệt, cả người lẫn ngựa đều mang áo giáp, nhưng địa thế núi đồi và nhiều sông rạch hạn chế sự hữu dụng của kỵ binh. (55)
    Tổ chức quân sự của người Choang vừa phức tạp lẫn linh động. Đơn vị căn bản là một tổ ba người lính bộ binh, những người cùng thị tộc canh tác cùng với nhau trên đồng ruộng được cấp cho họ bởi tù trưởng. Một viên tướng nhà Tống đã giao chiến trong các chiến dịch chống Nông Trí Cao đã viết trong tập hồi ký của mình như sau:
    Kỹ thuật đánh từ xa của quân nổi dậy là sử dụng một thuẫn của người rợ và các mũi lao. Một người lính cầm khiên (thuẫn) che chở cho thân thể và hai người kia phóng lao từ bên sau tấm khiên và giết hại [địch quân]. Khi họ tiến quân như thế, các mũi tên không có hiệu quả gì nữa. Họ đến như một ngọn lửa phương nam. (56)
    Với đội quân này, Nùng Trí Cao đã chiếm lĩnh cả thành Ung Châu, nơi mà Lý Thường Kiệt sẽ tấn công trong nhiều năm sau đó. Các đội quân của nhà Tống phái đến đều bị đánh bại. Truyền thuyết của người Choang thần thánh hóa quân đội của Trí Cao đến mức bảo rằng trong quân ông có một pháp sư biết…gọi rồng lửa. Và Nùng Trí Cao chỉ bị đánh bại khi bị tập kích sau lưng bởi kỵ binh Tống, lãnh đạo bởi Địch Thanh, một vị tướng nổi tiếng có tài cưỡi ngựa bắn cung, thường mặc giáp và đeo mặt nạ đồng ra trận.

    Tiếp đó, quân dân tộc tiếp tục làm người ta kinh hoảng khi hợp tác với Lý Thường Kiệt trong trận vây đánh Ung Châu 1075. Trong 100 000 quân nhà Lý kéo sang, ½ là quân dân tộc. Nhà Tống đã chép lại trong sử những đoạn văn kinh hoàng “ giặc kéo đi cả làng, chỉ người già yếu ở lại mà thôi” ( trai tráng đi đánh nhau, phụ nữ và trẻ con theo sau… kiếm chác.).

    Đến thời chống Mông – Nguyên, những vị tù trưởng như Hà Bổng, Hà Đặc tiếp tục lập thành tích tập kích quấy rối quân Nguyên. Mà huyền thoại đục cây xuyên tên qua, giả làm “ người Việt có sức bắn xuyên cây” chỉ là một trong các câu chuyện về cuộc chiến đấu của họ.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    2
    CÁC KỲ QUAN QUAN TRỌNG ĐƯƠNG THỜI:</font>

    Tham khảo nhiều từ forum Vietlyso

    1 trượng = 3,33 met

    I. Chùa Diên Hựu – Một Cột ( Quận Ba Đình, Hà Nội):

    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép năm 1049:

    “Trước đây vua chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Khi tỉnh dậy, vua đem việc ấy nói với bầy tôi, có người cho là điềm không lành. Có nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa đất5, làm tòa sen của Phật Quan Âm đặt trên cột đá như đã thấy trong mộng. Cho các nhà sư đi vòng lượn chung quanh tụng kinh cầu vua sống lâu. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu1.”. Diên Hựu có nghĩa là “ kéo dài tuổi thọ”.
    Ngày nay, chùa Một Cột sơ sài hơn ngày xưa. Theo sử chép, Chùa Một Cột bản gốc ngoài việc được dựng trên một cột đá đặt giữa hồ như ngày nay thì bản thân chùa phải được đặt trên cái nền là một tòa sen đang nở làm bằng gỗ, phỏng theo tòa sen của Phật Quan Âm. Chùa Một Cột ngày nay thì làm mấy cái cột kèo tỏa ra các hướng rồi bắt người ta… tự tưởng tượng đó là cánh hoa đang nở. Trong chùa bây giờ có đặt 1 bức tượng Phật sơn màu vàng, không rõ thời xưa có đặt tượng như thế không.

    Nhưng chùa Diên Hựu không chỉ có chùa Một Cột không thôi, nó còn được liên tục mở rộng thêm nhiều công trình. 1080, đến lượt vua Lý Nhân Tông ra lệnh đúc chuông lớn cho chùa, treo lên một tòa phương đình làm bằng đá xanh cao 8 trượng ( 26 met).

    Cũng toàn thư chép vào năm 1105, vua Lý tiếp tục cho xây thêm những kiến trúc sau đây:


    Mùa thu, tháng 9:
    - làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu.
    Bấy giờ vua sửa lại chùa Diên Hựu đẹp hơn cũ:
    - đào hồ Liên Hoa Đài3, gọi là hồ Linh Chiểu. ( Liên Hoa Đài nghĩa là “ hồ dưới đài sen”, có lẽ ý nói là đào cái hồ nơi đặt chùa Một Cột cho rộng ra)
    - Ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chạy chung quanh.
    - ngoài hành lang lại đào hồ gọi là hồ Bích Trì, đều bắc cầu vồng để đi qua.
    - Trước sân chùa xây bảo tháp.
    Hàng tháng cứ ngày rằm, mồng một và mùa hạ, ngày mồng 8 tháng 4, xa giá ngự đến, đặt lễ cầu phúc, bày nghi thức tắm Phật, hàng năm lấy làm lệ thường.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">
    hình ảnh cố tái hiện của cuốn Lịch sử Việt Nam Bằng Tranh</div>
    </div>
    </div>

    Qua đó, ta thấy chùa Diên Hựu ngày xưa là 1 quần thể kiến trúc quy mô, bao gồm 1 chùa Một Cột, 2 cái ao, 1 dãy hành lang quanh hồ dựng chùa Một Cột, cầu vồng bắc qua các ao, 3 ngọn tháp mà 2 trong đó có chỏm trắng và một cái phương đình cao 26 met để treo chuông. Rất đa dạng chứ không chỉ một cái chùa Một Cột như bây giờ.

    I.2. Chuông Quy Điền ( nằm gần Chùa Diên Hựu, tức Quận Ba Đình, Hà Nội):

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">

    mẫu chuông chùa Bình Lâm, cái chuông thời Lý duy nhất còn lại.</div>
    </div>
    </div>

    Năm 1080, đời Lý Nhân Tông, người ta đúc một quả chuông mà theo truyền thuyết là nặng đến 12 000 cân ( đâu khoảng 8 tấn). Dự định chuông đúc xong đem treo ở tòa phương đình cao 26 met ở chùa Một Cột. Nhưng rồi chuông nặng quá đánh không kêu nên phải đem ra bỏ ở ruộng của chùa ở gần đó ( ngày xưa nhà chùa như địa chủ, chùa nào cũng có ruộng riêng). Kết cuộc rùa chui vô đó làm tổ, gọi là chuông Quy Điền. Tòa phương đình từ đó đứng cô đơn một mình, không được treo gì cả.

    <font size="3">II. Tháp Báo Thiên ( quận Hoàng Kiếm, Hà Nội):

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">

    </div>
    </div>
    </div>

    Được xây năm 1057, triều vua Lý Thánh Tông. Tháp được xây trong chùa Sùng Khánh Báo Thiên của làng Tiên Thị, huyện Thọ Xương thuộc kinh thành Thăng Long. Tương truyền tháp cao 20 trượng ( 66 met), chia làm 12 tầng. 11 tầng dưới xây toàn bằng đá, tầng trên cùng và mái chóp thì đúc bằng đồng ( bởi thế nên sau này nó bị… sét đánh). Thời đó, người Thăng Long coi nó như cột chống trời vậy.

    III. Tượng phật chùa Quỳnh Lâm ( Đông Triều, Quảng Ninh):

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">

    Mẫu tượng chùa Long Đọi, tượng phật đời Lý duy nhất còn lại.</div>
    </div>
    </div>

    Chỉ biết xây vào đời Lý. Tương truyền tượng được đúc bằng đồng 100%, cao 6 trượng ( 20 met). Để thờ bức tượng này, nhà chùa phải làm 1 ngôi chùa cao 7 trượng ( 23,3 met) để nhét bức tượng vào. Người ta truyền rằng cách xa chùa 10 dặm mà vẫn còn nhìn thấy nóc điện che sát đầu tượng.

    Mà cũng không rõ tượng này là tượng Phật nào. Thích Ca, Quan Âm hay Di Lặc? Về tượng phật thời Lý còn sót lại thì chỉ thấy phật Thích Ca thôi. Là bức tượng phật Thích Ca chùa Phật Tích.

    IV. Vạc chùa Phổ Minh ( Thiên Trường, thuộc Nam Định giờ):

    Đúc vào năm 1262, sau cả kháng chiến chống Mông Cổ lần 1. Nó được đúc và đặt trong chùa Phổ Minh đã xây từ trước. Vạc có chiều sâu 4 thước, rộng 10 thước ta, nặng 6,150 cân ta. Nghe đâu con nít có thể đi lại trên vành vạc.

    V. Cố đô Hoa Lư:

    Tuy đã mất vị thế là trung tâm đất nước, nhưng những di tích Hoa Lư vẫn còn đó. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và những gì sứ giả Tống Cảo đi sứ thời Lê Hoàn thuật lại. Hoa Lư được miêu tả như sau:


    “ trong thành không có dân, chỉ có mấy trăm căn nhà tranh cho lính ở”. ( Tống Cảo).

    Giáp Thân, /Thiên Phúc năm thứ 5 [984], (Tống Ưng Hy năm thứ 1). Muà xuân, tháng 2, đúc tiền Thiên Phúc. Làm nhiều cung điện nhà cửa: dựng điện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân3, cổt giác vàng bạc, làm nơi coi chầu; phía đông là điện Phong Lưu, phía tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc. Tiếp đó là lầu Đại Vân, dựng tiếp điện Trường Xuân làm nơi vua nghỉ. Bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Bộc, mái lợp ngói bạc. ( Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).
    Vậy ta có thể phác họa Hoa Lư như sau:
    - thành có 2 vòng.
    - vòng ngoài gồm toàn nhà tranh cho quân lính ở. Có một số ngôi chùa có lẽ bằng gỗ hay gạch được dựng nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của vua quan và lính.
    - vòng thành trong là khu vực cung điện. Ở đây như được đề cập, quy mô cung điện có thể không lớn nhưng rất xa hoa: “ cột dát vàng, mái lợp ngói bạc.”. Ngô Sĩ Liên đã chỉ trích Lê Hoàn vì việc xây dựng này.
    - đây là 1 căn cứ quân sự hơn là một thành phố, nên thành hoàn toàn không có dân. ( Ba cái phim Huyền Sử Thiên Đô rồi cả phim LCU DTTL qua Tàu đóng, rồi game Thuận Thiên Kiếm, toàn là nhầm đây thành thành phố có dân ở.)

    VI. Đại Hoàng – Vịnh Hạ Long trên đất liền:

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">hãy nhìn những ngọn núi đá dốc đứng hình búp măng khổng lồ dưới đây:



    </div>
    </div>
    </div>

    Khu vực Ninh Bình, tức bao gồm cả Đại Hoàng, Hoa Lư, là 1 khu vực có địa thế rất đa dạng và hùng vĩ. Phía bắc giáp Nam Định là đồng ruộng, nhưng xuống phía Nam thì đó là 1 quần thể hòa trộn giữa 3 loại địa hình: núi non – sông lớn lẫn nhỏ - rừng cây. Điểm đặc biệt ở chỗ là núi đá ở đây cao và dốc đứng gần như mũi giáo bầu, hầu như không leo lên được. Địa hình phức tạp và hiểm yếu thế này, không lạ vì sao khởi nghĩa Phí Lang có thể đánh bại quân triều đình.

    Ngày nay, Ninh Bình được mệnh danh là Vịnh Hạ Long trên đất liền.

    VII. Tàn tích Cổ Loa:

    Tòa thành huyền thoại tương truyền có 3 vòng thành, kết hợp cùng hệ thống sông và ao hồ. Thời nhà Ngô về trước, nó vẫn còn là vị trí quan trọng ( Ngô Quyền chọn đây là kinh đô). Cũng như Hoa Lư, đây là 1 căn cứ quân sự hơn là một thành phố. Hơn thế nữa, còn là căn cứ quân sự kết hợp thủy lẫn bộ ( có thể cho thủy quân kéo tàu vào đồn trú). Nhưng từ khi nhà Đinh lên ngôi về sau, không còn ai nhắc đến nó nữa. Có lẽ nơi này đã suy tàn, chỉ còn lại những tàn tích mà thôi.

    VIII. Thương cảng Vân Đồn và Vịnh Hạ Long ( Quảng Ninh):

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">


    google có thể tìm được rất nhiều hình Vịnh Hạ Long</div>
    </div>
    </div>

    Trung tâm ngoại thương lớn nhất Đại Việt ngày xưa. Là nơi buôn bán trao đổi giữa ít nhất người Việt với Trung Quốc, Champa, Java ( Indonesia giờ), Srivijaya ( cũng thuộc Indonesia giờ) và các quốc gia thuộc Thái Lan hiện đại. Từ thời Lý đã nổi tiếng là thương cảng sầm uất. Không những thế, còn là một trong những vị trí tiền tiêu ngăn chặn các cuộc tấn công vào Đại Việt bằng đường biển. Sau này Trần Khánh Dư đã trấn thủ ở đây.

    Gần thương cảng Vân Đồn là kỳ quan thiên nhiên Vịnh Hạ Long mà ta biết.

    IX. Sông Bạch Đằng:

    Ngày xưa, đây là con đường mà quân thủy của bất cứ quân xâm lược nào cũng phải đi qua để tiến vào Thăng Long. Lúc đó, sông Bạch Đằng còn rộng lớn, có nhiều nhánh đổ ra biển, hai bên bờ đầy rừng và bụi rậm, dễ cho quân mai phục ẩn nấp. Nơi này cho đến giờ vẫn còn nhiều tàn tích, cọc nhọn từ các cuộc giao tranh ngày xưa.

    “ Con ơi nhớ lấy lời cha
    Gió to sóng cả, đừng qua sông Rừng.”

    Sông nay bị vùi lấp quá nhiều, cảnh quan ko còn như xưa nữa, tự tưởng tượng vậy.


    X. Tháp Long Đọi:

    Chùa nằm trên núi Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam, cách Phủ Lý khoảng 8 km về phía Bắc. Chùa Đọi được xây dựng vào năm 1054

    Tháp được đặt ở chùa Long Đọi tuốt luốt trên núi Đọi. Tháp được xây năm 1054, cũng cao khoảng 60 – 80 met, nhưng có lẽ làm bằng gạch hoặc đá. Chùa Long Đọi, ngoài cái tháp này còn có tượng phật bằng đá cao 2,5 met, nay vẫn còn.

    Tượng phật chùa Long Đọi có thể xem lại hình trong mục Chùa Quỳnh Lâm. Tháp thì tham khảo Tháp Báo Thiên.

    XI.Ải Nam Quan:

    Thực tế chỉ được mở ra bởi vua Lý Thái Tổ vào năm 1020, nằm trên tuyến đường đường Thăng Long – Gia Quất - ải Cần Trạm - ải Chi Lăng – núi Kháo tỉnh Lạng Sơn - ải Nam Quan. Không bề thế nhưng là con đường bộ quan trọng nối liền Việt – Trung.


    XII. Quỷ Môn Quan:

    Là 2 ngọn núi thuộc huyện Bắc Lưu của Quảng Tây bây giờ ( với 1 con đường ở giữa). Thời trước khi vua Lý Công Uẩn xây dựng con đường Thăng Long – Gia Quất - ải Cần Trạm - ải Chi Lăng – núi Kháo tỉnh Lạng Sơn - ải Nam Quan, Việt – Trung đi đường bộ giao thong với nhau phải theo tuyến đi qua Quỷ Môn Quan này, cực kỳ nguy hiểm. Mệnh danh là Thiên Hạ Đệ Nhất Hùng Quan.

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">KO biết sao chứ VN giờ cũng có 1 Quỷ Môn Quan ở Lạng Sơn:


    </div>
    </div>
    </div>

    XIII. Núi Ba Vì:


    google tìm kiếm có thể thấy thêm rất nhiều.

    Được mệnh danh là núi tổ của Việt Nam ( Nguyễn Trãi viết). Là một một dãy núi đất và đá vôi lớn trải trên một phạm vi rộng chừng 5000 ha ở ba huyện Ba Vì (Hà Nội), Lương Sơn và Kỳ Sơn (Hòa Bình). Quan trọng nhất là cụm ba ngọn núi thuộc huyện Ba Vì bây giờ, mà nhân dân thần thánh hóa thành 3 vị thần anh em Sơn Tinh – Cao Sơn – Quý Minh. Đến tận thế kỷ 19 vẫn còn mang nét thiêng liêng, người ta sợ uy thần không dám đến gần.

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    GIÁP TRỤ PHÒNG HỘ.

    I. Mũ:

    Từ đời Đinh đến Lê Sơ ( ít nhất là Lê Thánh Tông), Đại Việt thống nhất sử dụng 2 loại mũ chiến là mũ Tứ Phương và mũ Đâu Mâu.

    I.1. Mũ Tứ Phương Bình Đỉnh:


    [Thái Bình] năm thứ 5 [974], (Tống Khai Bảo năm thứ 7). Muà xuân, tháng hai, quy định về quân mười đạo: mỗi đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người, đầu đội mũ bình đính3 vuông bốn góc (loại mũ này làm bằng da, chóp phẳng, bố bên khâu liền, trên hẹp dưới rộng, quy chế này đến đời bản triều khởi nghĩa vẫn còn dùng, đời sau vẫn theo thế).

    Mũ Tứ Phương, thank forum total war bên gamevn đã làm giúp.

    Như đoạn văn trên của Đại Việt Sử Ký toàn thư nêu rõ, đến tận thời điểm viết cuốn sử ấy là thời Lê Thánh Tông, mũ vẫn còn được sử dụng.

    I.2. Mũ Đâu Mâu:

    Loại mũ kết từ nhiều miếng kim loại hình chữ nhật, chụm lại tạo 1 lỗ trống trên đỉnh chóp mũ. Lỗ trống đó dùng 1 thứ có công dụng như con ốc hay bù lon để vặn lại. Thứ ấy ở TQ thường là gù lông, có khi khác là 1 mũi nhọn như giáo, còn ở VN nó thế này:

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">


    dưới đây là đầu tượng trong đền Bạch Mã:
    </div>
    </div>
    </div>

    Chu Khứ Phi trong Lĩnh Ngoại Đại Đáp chép lại sau khi đi du lịch Đại Việt vào thời Lý, còn cho biết thêm rằng người dân Việt có dùng nan tre để tự chế một loại mũ phỏng

    Về sau, đời Lê Sơ có ghi nhận một số loại mũ chiến nữa là bản cải tiến của mũ Tứ Phương “ hạ thấp đỉnh xuống, đổi vuông thành tròn”, mà một thứ gọi là mũ sơn đỏ mà nguyên liệu chế tạo cần lông đuôi ngựa ( được đề cập do lệnh cấm dân cắt trộm lông đuôi ngựa để chế mũ). Nhưng đó là thời Lê Sơ, không bàn ở đây.

    mũ Tứ Phương tròn đời Lê Sơ trông như trên.

    I.3. Mũ đầu sư tử:

    Khai quật tượng thời Lý – Trần thấy có mấy mẫu đội mũ này. Không rõ là tạc chơi hay dựa trên sự thật.





    II. Giày dép:

    Không nghe đề cập. Thời nhà Nguyễn thì thấy lính đi toàn chân đất. Thời nhà Lê – Trịnh thì thấy hình vẽ lính đi giày. Chu Khứ Phi hồi thăm VN vào đời Lý nói rằng nghe đồn dân ta da chân rất dày. Nên nói chung chắc là nên cân bằng giữa chân đất và đi giày,dép.


    Binh sĩ thời Lê – Trịnh đi giày.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3
    IV. Giáp trụ:</font>

    Thông tin về giáp trụ mà sử sách ghi chép:


    1039, Nùng Tồn Phúc đổi châu ấy gọi là nước Trường Sinh, sửa soạn binh giáp, đắp thành kiên cố để tự giữ, không nộp cống xưng thần nữa.

    1043, Tháng 12, xuống chiếu cho quân sĩ sửa soạn giáp binh, hẹn đến mùa xuân, tháng 2 sang năm đi đánh Chiêm Thành.

    1119, Mùa thu, tháng 7, đóng hai chiếc thuyền Cảnh Hưng và Thanh Lan. Xuống chiếu cho các quân đóng thuyền chiến, sửa đồ binh giáp, vua muốn thân đi đánh động Ma Sa5.

    Tháng 11/ 1210 ( DVSL):
    Do đó mới dẫn quân đến cái am5, Hưng Thánh gặp Quảng, Lệ và muốn đánh lén mấy ông này, nhưng vì quân lính của Quảng, Lệ đông đảo (sợ khó thắng), chúng mới cùng nhau lập mưu, giả vờ nói rằng: "Chúa thượng mới vừa an táng, dân tình chưa yên, sao chẳng lui giáp binh đi, rồi tự về triều xem xét mà đồng mưu hiệp lực để khuông phò vương thất thì cũng không phải việc hay đó hay sao?"

    Tháng 3/ 1214 ( DVSL):
    Đoàn Nhuyễn vốn là người mạnh mẽ mà hung hăng nên khi thắng được lại càng sinh kêu ngạo. Rồi thì đốt phá nhà cửa, giết hại sinh vật, bắt cướp gà, gần hết. Sau đó lại cởi áo giáp lên chùa trên núi đánh chuông làm vui. Lúc bấy giờ những lính thú ở nơi chùa đều đánh chuông. Nguyễn Nộn nghe tiếng chuông đem binh đón đánh, giết chết bọn Đoàn Nhuyễn. Nguyễn Nộn thừa thắng đuổi theo đến Pháp Kiều (cầu Pháp) thì bị người Hồng là Đoàn Nghi núp ở dưới cầu cầm cái mác đâm thủng cái áo giáp sắt, Nguyễn Nộn bị thương ở lưng dẫn binh rút lui.


    - Nguyễn Trung Ngạn ( thời Trần) <font color="Blue">mặc áo chiến bào, đội khăn quan võ, đeo "lăng kim nghiền" ( hộ tâm phiến) bằng gỗ vuông thiếp vàng 4 cạnh
    . ( An Nam Tức Sự)

    1377: Trần Duệ Tông: "Ta mình mặc giáp cứng, tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không ai dám đươngđầu với ta."

    1401, Hồ Tùng ( đầu thời Hồ) đi đánh Chiêm Thành, quân bộ đi đường núi cách xa quân thuỷ; gặp nước lũ, tướng sĩ giữa đường hết lương 3 ngày, phải nướng áo giáp bằng da để ăn

    1469: Cấm cợ búa trong dân gian bán nón thuỷ ma và nón sơn đỏ. Vua dụ quan viên và trăm họ cả nước rằng:
    "Những thứ áo giáp, mũ trụ là để cho khí thế quân đội trang ngghiêm, như [52b] thứ nón tuỷma và nón sơn đỏ là của thân quân vẫn đội để túc vệ. Nay chợ búa dân gian có nhiều người bán, nên cấm hẳn đi".

    - Phép thi võ trong quân đội Lê Sơ có môn bắn cung, ném thủ tiễn, sử dụng áo giáp và lá chắn. áo giáp được trang bị rất phổ biến trong quân đội Lê Sơ, vì thế trong bài Quan duyệt thuỷ trận, Nguyễn Trái viết rằng: “Muôn giáp khoe oai tì hổ dữ”.

    tổng hợp từ Lịch Sử Quân Sự VN tập 3 ( nxb Chính Trị Quốc Gia) và Đại Việt Sử Lược, Đại Việt SỬ Ký Toàn Thư
    Đặc biệt lưu ý sự kiện 1214, 1401 và những gì sứ giả Trần Phu nhà Nguyên kể lại trong An Nam Tức Sự, ta suy ra:
    - thời này vẫn còn dùng Hộ Tâm Phiến.
    - Các tướng lĩnh cuối Lý có sử dụng một loại giáp sắt bọc kín đến sau lưng.
    - thời Hồ, binh sĩ trang bị giáp da.

    IV.1. Hộ tâm phiến:

    Như đã từng nói trong topic về chiến dịch chống Tống 981. Hộ tâm phiến hiện là loại giáp duy nhất VN ta đào được hiện vật, nhưng là đời Đông Sơn. Đây là loại giáp thô sơ nhất, dùng 1 tấm cứng che đâu đó trên người mình. Tấm cứng có thể làm bằng gỗ, đồng hoặc sắt. Theo những ghi chép của Trần Phu và những gì đào được, VN ta tới giờ ghi nhận được 2 loại hộ tâm là làm bằng gỗ hoặc đồng. Hộ tâm nước ta thường có hình vuông hay chữ nhật. Nó cũng có thể được trang trí cầu kỳ, mà theo Trần Phu chép là được thếp vàng ở 4 góc hộ tâm.

    Vẫn nhắc lại 2 lưu ý về hộ tâm:
    - phải mặc kèm áo dày ( Trần Phu cũng có nhắc là Nguyễn Trung Ngạn mặc kèm chiến bào). Do nếu cởi trần thì 4 góc hộ tâm sẽ đâm vào da thịt khi cử động.
    - hộ tâm không được quá lớn, nó chỉ dùng để che vài chổ hiểm yếu trên thân thể mà thôi. Nếu hộ tâm quá lớn, nó sẽ như 1 tấm bảng ép vào người mặc, khiến người đó ko thể cử động ( cúi, gập người, xoay người,...). Chỉ những kỵ binh mới có thể mặc loại hộ tâm lớn, vì họ không phải thực hiện những cử động nói trên khi chiến đấu trên lưng ngựa.


    Hộ tâm thời Đông Sơn. Là 1 miếng đồng hình vuông, mỗi cạnh 10 – 15 cm.


    IV.2. Minh Quang Giáp:


    Minh Quang Giáp gốc trên tượng nhà Đường.

    Các tượng Kim Cương đời Lý còn sót lại đều được tạc mặc loại giáp này. Minh Quang Giáp là 1 loại giáp nhà Đường. cụ thể nó có các chi tiết đặc biệt sau:
    - có giáp vai
    - 2 miếng giáp tấm che 2 bên ngực ( giáp tấm này cũng được gọi là hộ tâm phiến)
    - lót dưới giáp tấm là 1 lớp giáp vảy cá.
    - có giáp bảo vệ 2 bên hông và phần trên đùi
    - mặc váy

    Tùy quốc gia khác nhau mà Triều Tiên, Việt Nam du nhập loại giáp này và chế tạo theo hướng thẩm mỹ của mình. Cụ thể, Minh Quang Giáp VN có các điểm đặc biệt sau khác biệt với bản gốc của TQ:


    Minh Quang Giáp VN

    - cổ có tròng thêm 1 tấm bảo vệ phủ xuống ( ko phải là 1 miếng da buộc lại ở trước cổ như TQ).
    - viền 2 tấm hộ tâm trên ngực ngực dùng hoa văn vòng xoắn được đúc nổi, từ trên vai kéo xuống, cuộn tròn ở giữa mỗi tấm giáp.
    - giáp phần thân dưới ( che chở 2 bên hông và hạ bộ) design uốn lượn cầu kỳ hơn chứ ko đơn thuần là hình vuông đơn sơ như bên TQ. Độ dài giáp phủ chưa tới đầu gối ( điểm đặc biệt và rất đẹp, nên nhấn mạnh).
    - mọi chỗ trên giáp và váy đều có hoa văn hình hoa nở ( điểm đặc biệt và rất đẹp, nên nhấn mạnh).
    - viền giáp vai, giáp hông, váy có đính tua và dây đeo lục lạc đầy rẫy. ( điểm đặc biệt và rất đẹp, nên nhấn mạnh).

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">Minh Quang Giáp VN:


    hình thử phục chế của họa sĩ Trịnh Quang Vũ:

    [IMG][/IMG]


    cổ tròng miếng bảo vệ ( nhìn rõ thấy cái miếng phần phủ lên vai cũng đính lục lạc):

    giáp vai cũng đính tua rủ hoặc dây đính lục lạc:

    phần viền của giáp thân dưới cũng có đính lục lạc ( đính thẳng vào, ko cần dây nối lòng thòng)

    hoa văn hoa cúc nở đầy trên giáp:

    giày:
    </div>
    </div>
    </div>


    Hãy so sánh lại với cũng bộ Minh Quang Giáp VN này, nhưng các nhà chế đạo cụ TQ trong phim LCU DTTL vừa rồi đã làm sai đi thế nào:



    - bỏ sạch không còn một cái tua vải hay dây đeo lục lạc nào.
    - những hoa văn hình hoa nở vốn có đầy trên giáp lẫn váy cũng bị xóa bỏ toàn bộ
    - 2 hộ tâm phiến có viền vòng xoắn nổi đeo trên ngực bị thay thành 2 cục đồng tròn đính trên 2 miếng da. Hoa văn vòng xoắn biến mất.
    - Giáp phần thân dưới bị cắt thành 3 mảnh che 2 bên hông và hạ bộ, trong khi đáng ra phải là 1 miếng dính liền.
    - chưa kể cái mũ đâu mâu đã bị sửa thành đính gù lông.

    Bộ giáp của phim chỉ còn giữ lại các chi tiết VN là:
    - cổ có tròng thêm 1 tấm bảo vệ phủ xuống.
    - Giáp phần thân dưới bị cắt thành 3 mảnh nhưng viền giáp vẫn còn phỏng theo những nét uốn lượn của Minh Quang Giáp VN.

    Bonus về Minh Quang Giáp các nước:

    <div style="margin: 5px;">
    <div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;">
    Nội dung ẩn: <input value="Hiện ra" class="button" style="margin: 0px; padding: 0px; width: 60px; font-size: 13px;" onclick="if(this.parentNode.parentNode.getElements ByTagName('div')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display != 'inline')
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'inline'; this.innerText = ''; this.value = 'Ẩn đi'; }
    else
    { this.parentNode.parentNode.getElementsByTagName('d iv')[1].getElementsByTagName('div')[0].style.display = 'none'; this.innerText = ''; this.value='Hiện ra'; }" type="button">
    </div>
    <div class="alt2" style="border: 1px inset; padding: 6px;">
    <div class="spoiler" style="display: none;">Minh Quang Giáp gốc của TQ:

    Minh Quang Giáp trong phim Hàn:

    1 bản Minh Quang Giáp khác:

    Minh QUang Giáp trong phim Huyền Sử Thiên Đô: chẳng còn tí chi tiết Việt nào sót lại:
    </div>
    </div>
    </div>

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •