Trang 1 của 17 12311 ... CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 169
  1. #1
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0

    Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam

    Tên sách: Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam
    Tác giả: Trung tướng, Giáo sư Phạm Hồng Sơn
    Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
    Năm xuất bản: 1997
    Số hoá: ptlinh, chuongxedap
    www.quansuvn.net


    Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam


    CHƯƠNG MỘT
    TỔ TIÊN ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC
    ***********************************



    I
    CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ CHỐNG TỐNG XÂM LUỢC NĂM 1077

    Sau khi giành được độc lập, xóa bỏ ách đô hộ của nhà Đường, qua các triều đại Ngô, Đinh, Lê, những cuộc xâm lăng từ phương Bắc liên tiếp nổ ra và đều bị quân dân ta đánh bại với những trận Bạch Đằng, Chi Lăng, Bình Lê. Tới thời nhà Lý đầu những năm 70 của thế kỷ XI, Tống Thần Tông với tể tướng là Vương An Thạch lại âm mưu xâm lược nước ta. Do bị thất bại năm 981, nên lần này chúng chuẩn bị cho việc xuất quân xâm lược rất chu đáo, hòng biến nước ta thành châu, quận của Trung Quốc. Lúc đó ở nước ta, dưới triều Lý Thánh Tông, Đại Việt quân hùng, tướng mạnh, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, vững chắc trong toàn dân. Lòng tin sắt đá đánh bại quân xâm lược đã hiện rõ qua bài thơ lịch sử của Lý Thường Kiệt:

    - Nam quốc sơn hà nam đế cư.

    - Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

    - Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

    - Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

    Tình hình đất nước như Trần Quốc Tuấn đã nói với vua Trần ngày 24 tháng 6 năm Canh Tý: “Vua Lý dựng nghiệp, quân Tống xâm lấn địa giới, lúc ấy dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm - Liêm, đến tận Mai Lĩnh đấy là có thế lực mạnh”. Với tư tưởng tích cực, lấy tiến công để tự vệ một cách chủ động, bằng một trận tiến công chiến lược đánh Khâm - Liêm và Ung Châu, Lý Thường Kiệt đã phá tan các căn cứ chuẩn bị tiến công của địch, rồi nhanh chóng rút về nước, chuẩn bị thế trận để phá cuộc tiến công xâm lược của nhà Tống với tư tưởng “phòng ngự tích cực rồi phản công”. Lý Thường Kiệt đã bố trí lực lượng phòng thủ từ biên giới và thiết lập trên bờ sông Như Nguyệt một chiến tuyến vững chắc sẵn sàng ngăn chặn đối phương để tạo thời cơ phản công đánh bại quân xâm lược.


    1. “Đánh phá căn cứ chuẩn bị của địch”: chiến lược chủ động tiến công trong phòng thủ đất nước của Lý Thường Kiệt.

    Vào những năm 1068 - 1076, nhà Tống lại âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa. Mục đích của cuộc xâm lược này là nhằm giải quyết những khó khăn về đối nội và đối ngoại, đồng thời lấn chiếm đất đai, mở rộng phạm vi của triều đình Tống. Năm 1068 Tống Thần Tông lên nối ngôi, đã cùng với tể tướng Vương An Thạch thi hành một số “cải cách”, nhưng ngay trong triều đình đã vấp phải nhiều sự chống đối, toàn dân oán ghét. Bên ngoài, cuộc chiến tranh với nước Liêu, Hạ bị sa lầy, kéo dài mấy chục năm cho mãi tới năm 1075 vẫn chưa kết thúc. Theo tính toán của nhà Tống, đánh nước Đại Việt để “nếu thắng, thế Tống sẽ tăng, các nước Liêu, Hạ sẽ phải kiêng nể”. Nhà Tống chuẩn bị rất chu đáo cho cuộc xâm lược lần thứ hai này. Chúng chuẩn bị kế hoạch một cách công phu, quyết định thành lập “An Nam chiếu thảo sứ” với một đạo quân viễn chinh lớn gồm nhiều vạn quân chủ lực tinh nhuệ tuyển từ phương Bắc, cùng hàng vạn kỵ binh và hàng chục vạn quân địa phương thuộc các tỉnh Nam Trường Giang. Triều đình Tống còn ra lệnh cho công khố xuất 600.000 lạng vàng để bảo đảm chi phí cho chiến tranh. Chúng ráo riết luyện tập quân đội xây dựng nhiều căn cứ quân sự và hậu cần ở hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây giáp biên giới Đông Bắc nước ta. Trong đó có thành Ung Châu (Nam Ninh - Quảng Đông) giữ một vị trí hết sức quan trọng. Thành Ung Châu được thiết lập thành một căn cứ xuất phát trọng yếu cho cuộc xâm lược. Từ đó đi đến các châu biên giới của ta là Quảng Nguyên (Quảng Uyên, Cao Bằng), Quang Lang (Ôn Châu - Lạng Sơn), Tô Mậu (Na Dương, Đình Lập, An Châu), đường bộ dài chừng 150 cây số. Cũng từ đó đến hai cửa biển Khâm Châu và Liêm Châu (Quảng Đông) có đường đi thuận lợi dài khoảng 120 cây số. Phía nam Ung Châu, sát biên giới nước ta, chúng đặt năm trại quân: Thành An, Thái Bình, Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Thiên Long.


    Nhà Tống còn thực hiện chính sách tạm thời hòa hoãn với hai nước Liêu, Hạ, thậm chí còn cấp đất cho người Liêu. Chúng còn mua chuộc lôi kéo Chiêm Thành ở phía Nam cùng tham gia cuộc chiến với chúng, dùng thế hai gọng kìm đánh Đại Việt. Đồng thời chúng tìm cách mua chuộc một số tù trưởng dân tộc thiểu số vùng biên giới phía Bắc nước ta làm nội gián, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc của ta.

    Những việc đó đã xảy ra vào đầu năm 1075, bộc lộ rõ ý định xâm lược nước ta của Vương An Thạch. Vả lại, hai năm trước đó có người Tống tên là Bá Tường, một nho sĩ đậu tiến sĩ không chịu ra làm quan cho nhà Tống đã gửi mật thư cho Lý Thường Kiệt: “... nghe rằng hiện nay nhà Tống muốn cử binh đi đánh Giao Chỉ”. Bởi thế bên ta đã nắm được khá đầy đủ tin tức về tình hình chuẩn bị chiến tranh của nhà Tống. Lúc này số quân Tống tập trung ở các căn cứ Ung, Khâm, Liêm khoảng 10 vạn đang luyện tập, song chúng chưa thể đánh ngay được vì số quân Hoa Nam này phần lớn là quân mới tuyển, chưa thiện chiến. Còn việc nhà Tống rút 45 ngàn cấm binh thiện chiến ở phương Bắc để lập đạo quân chủ lực, thì làm chưa xong.

    Trước tình hình đó, Lý Thường Kiệt cho rằng: “Ngồi yên đợi giặc sao bằng đánh trước, đánh để bẻ gãy mũi nhọn của nó”. Chủ trương “Tiên phát chế nhân”, ông quyết định mở trận tiến công đại quy mô sang đất Tống.

    Ngày 27-10-1075, cuộc tiến công bất đầu, với hai cánh quân khoảng 10 vạn người.

    Các đạo quân theo đường bộ từ Quảng Nguyên, Quang Lang, Tô Mậu do Tôn Đản, Hoàng Kim Mãn, Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Vi Thủ An là những thủ lĩnh của các dân tộc thiểu số chi huy, chia thành nhiều mũi, vượt biên giới, bất ngờ tiến công vào toàn bộ hệ thống đồn trại quân Tống. Trước sức mạnh tiến công mãnh liệt bất ngờ của ta, quân Tống không sao chống đỡ nổi, hàng ngũ rối loạn, ngoài số bị chết, bị bắt, số còn lại vội vã bỏ đồn trại tháo chạy về Ung Châu, quân ta tiếp tục tiến công truy kích, triệt phá các đồn trại trên đường, thừa thắng tiến lên hợp quân vây đánh thành Ung Châu.

    Lúc này, triều đình Tống và bọn tướng lĩnh của chúng chưa hề biết được ý đồ của ta. Trong lúc quân Tống đang tập trung đối phó với hướng quân trên bộ ở phía Tây và Tây Nam Ung Châu, ngày 30-12-1075 Lý Thường Kiệt đưa đại quân khoảng 6 vạn đi đường thủy từ Vĩnh An tới Khâm Châu. Đêm 31-12-1075 tiền quân ta gồm một số vệ quân thiện chiến bí mật đổ bộ vào cảng Khâm, bất ngờ đánh chiếm thành Khâm. Ngày 2-1-1076 thủy quân ta tiến vào cửa bể Liêm Châu, đổ bộ lên bến cảng và nhanh chóng chia thành nhiều mũi bao vây tiến công đánh chiếm thành Liêm Châu.

    Tiếp đó Lý Thường Kiệt phái một số vệ quân nhanh chóng phát triển tiến công về hướng Bạch Châu, nhằm mục đích nghi binh và bảo vệ cạnh sườn phía sau cho đại quân tiến về thành Ung Châu.

    Vào trung tuần tháng 1-1076 đạo quân chủ lực của ta từ Khâm Liêm đã tiến đến Ung Châu. Tại đây hai cánh quân đã gặp nhau. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Lý Thường Kiệt quân ta bao vây bốn mặt thành và gấp rút chuẩn bị bước vào trận đánh chiếm thành Ung Châu.

    Thành Ung Châu, một chiến thành cổ lớn được xây dựng kiên cố, có thành cao hào sâu rất lợi thế cho bên phòng ngự. Trong thành có khoảng 6 vạn quân Tống gồm cả quân mới tuyển và tàn quân các nơi cụm lại.

    Ngày 17-1-1076 quân ta bắt đầu công phá thành Ung Châu. Cuộc giao chiến giữa ta và địch diễn ra hết sức quyết liệt và kéo dài.

    Trước tình thế hết sức nguy ngập, vua Tống và Vương An Thạch ra lệnh cho Tô Giám phải cố thủ kìm chân chủ lực ta ngay tại đất Tống, khiến cho quân ta ở vào thế đánh cũng khó mà rút cũng khó, nhân lúc đó nhà Tống sẽ tung đạo quân chủ lực phương Bắc do Quách Quỳ chỉ huy, dùng chiến thuyền vượt biển nhanh chóng tiến quân, bất ngờ đổ bộ, đánh chiếm kinh đô Đại Việt.

    Vua Tống phái Trương Thủ Tiết nắm đạo kỵ binh khoảng 1 vạn tên nhanh chóng tiến xuống ứng cứu cho Tô Giám đang bị khốn quẫn tại thành Ung Châu.

    Khi quân ta tiến công thành Ung, Lý Thường Kiệt bí mật phái một đạo quân mai phục sẵn ở ải Côn Luân để đón đánh viện binh địch cách Ung Châu khoảng 80 dặm. Ngày 6-2-1076 trong khi Trương Thủ Tiết đang dồn quân điều chỉnh đội hình thì bất ngờ phục binh ta nổi lên tiến đánh. Quân Tống không kịp chống đỡ, nhanh chóng bị ta tiêu diệt, Trương Thủ Tiết chết tại trận.

    Sau khi diệt xong viện binh, Lý Thường Kiệt tập trung toàn lực đánh chiếm thành Ung. Nghệ thuật công thành của Lý Thường Kiệt đã đạt tới đỉnh cao mới trong thời đại bấy giờ.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    0
    Quân ta đã dựng hàng loạt thang “Vân thê”, từ trên chòi liên tiếp bắn tên có tẩm chất cháy vào trong thành, dùng tên độc bắn lên thành, đào đường hầm. Những trận đánh ác liệt nhất đã diễn ra vào những ngày cuối tháng 2-1076. Quân ta đã dùng bao đất để lấp hào, đắp tường, xếp chồng lên nhau thành bậc để vào thành. Bao đất chất hàng vạn, cao như núi. Quân ta nối tiếp nhau trèo lên chiếm được mặt thành, phá được cửa thành, tràn vào trong thành. Trước sức mạnh tiến công áp đảo của ta, quân Tống đã tan rã, đầu hàng, Tô Giám phải tự sát sau 42 ngày cố thủ. Ngày 1-3-1076 quân ta đã hạ được thành. Lý Thường Kiệt ra lệnh hủy thành lũy, phá kho tàng trong cả vùng Tả Giang, lấy đá lấp sông để ngăn chặn đường cứu viện của quân Tống, và phái ngay một đạo quân thừa thắng phát triển lên phía Bắc, tiến công đánh chiếm thành Tân Châu nhằm mục đích nghi binh và chặn địch tổ chức phản kích trong khi quân ta thu dọn chiến trường và tổ chức rút quân. Quân ta đã nhanh chóng chiếm thành Tân Châu để án ngữ mặt Bắc. Triều đình Tống được tin Ung Châu mất, thấy quân ta rầm rộ tiến lên đánh Tân Châu mà vẫn lúng túng chưa tìm được cách đối phó, nhân đó Lý Thường Kiệt ra lệnh chia quân thành hai đường thủy, bộ chủ động lui binh. Các đạo quân án ngữ tại Tân Châu và Ung Châu được lệnh rút sau để bảo vệ đại quân an toàn cơ động về nước.

    Kết quả cuộc tiến công đánh phủ đầu phá chuẩn bị, quân ta đã tiêu diệt 10 vạn quân Nam Tống chuẩn bị đánh Đại Việt, phá các căn cứ và phương tiện chuẩn bị cho cuộc xâm lăng, thu và phá hàng chục vạn tấn lương thảo, chiến cụ khí giới và bắt hàng vạn tù binh. Lý Thường Kiệt đã chủ động phản chuẩn bị vào kẻ địch ngay trên đất địch, buộc địch phải chuẩn bị lại khi tiến hành xâm lược nước ta. Đòn phản chuẩn bị của Lý Thường Kiệt đã đánh vào những căn cứ hậu cần chiến lược của địch và quan trọng hơn nữa là đã thực hành đánh tiêu diệt đạo quân Nam Tống, lực lượng sẽ xâm lược nước ta, buộc quân Tống phải bị động đối phó và thay bằng đạo quân Bắc Tống. Mặc dù là đạo quân thiện chiến, nhưng khi vào nước ta do không hợp thủy thổ, đường xa quân mệt, đau ốm và bệnh tật nhiều, lương thảo phải vận chuyển từ xa hàng vạn cây số, chỉ riêng hành quân từ phía Bắc xuống đã mất 5 - 6 tháng trời.

    Tống sử đã viết: “Vua Tống, ngay khi quân Tống mới vào Quảng Tây, đã phải gửi danh y, thuốc men úy lạo quân sĩ bị đau ốm đông, ra lệnh ai chữa được nhiều, sẽ có thưởng”.

    Đòn tiến công này có giá trị lớn trong việc đánh bại cuộc xâm lăng của quân Tống. Lý Thường Kiệt thật cao kiến khi nêu tư tưởng quân sự “ngồi yên đợi giặc đến, sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó”1.

    Trong chiến dịch phản chuẩn bị vào Ung - Khâm - Liêm, nguyên tắc quân sự bí mật bất ngờ đã được phát huy cao độ. Lý Thường Kiệt đã làm cho kẻ địch bị mắc sai lầm, đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Trận chiến đấu ở thành Ung Châu có ý nghĩa chiến lược đối với cả hai bên. Địch có quân đông, dựa vào hầm cao hào sâu quyết tử thủ, âm mưu kéo dài cuộc chiến đấu để kìm chân đạo quân ta ở đây và thực hiện kế hoạch đánh úp thành Thăng Long. Đối với ta, có triệt phá được thành Ung Châu mới đạt được mục đích đánh tiêu diệt lực lượng và cơ sở vật chất của cuộc xâm lược đặt ra ban đầu, buộc kẻ địch phải chuẩn bị lại, phá thế trận áp sát biên giới của địch.

    Ta vừa chủ động bất ngờ tiến công lại vừa chủ động rút lui làm cho kẻ địch luôn ở vào thế bị động. Tiến quân vào sâu đất địch trên 100 cây số, tiêu diệt gần mười vạn tên địch, phá tan thành quách kiên cố và các cánh viện binh địch theo một kế hoạch nhịp nhàng ăn khớp của cả cánh thủy binh vào Châu Liêm, Châu Khâm và cánh bộ binh từ biên giới đến Ung Châu thể hiện tài năng quân sự của Lý Thường Kiệt và sức mạnh của quân dân Đại Việt. Đánh thắng kẻ địch trên đất nước mình đã khó, nhưng đánh thắng kẻ địch mạnh trên đất nước địch lại càng khó hơn, đúng như Trần Hưng Đạo đã nói, muốn làm được như vậy phải có thế lực mạnh và có tài ba quân sự hơn người.

    Nắm chắc địch và địa hình ngay trên đất địch khó hơn biết bao nhiêu lần ở đất mình. Lý Thường Kiệt đã đánh thắng đối phương trong cuộc hành binh sang Chiêm Thành ở phía Nam và lại đánh thắng cả quân Tống ngay trên đất địch, thật quả trong lịch sử Việt Nam hiếm có.

    Thắng địch mà kịp thời rút quân đúng lúc, không say sưa với thắng lợi, lại càng nói lên tài năng của người tướng. Chính đòn phá chuẩn bị tiến công này đã mở đầu cho thắng lợi hoàn toàn khi quân Tống xâm lược nước ta. Quách Quỳ trước khi xuất quân đã khiếp sợ sức mạnh của quân dân Đại Việt. Chính Tống Thần Tông đã phải chỉ thị: “giặc Giao Chỉ mạnh, gan, liều chết... nên cẩn thận”.

    Theo lời của viên chuyên sứ Lý Bình Nhất của Tống thì phải 40 vạn phu vận chuyển mới đủ cung cấp lương ăn cho 10 vạn quân trong một tháng. Điều đó đã nói lên giá trị của đòn phá chuẩn bị tiêu diệt các căn cứ chuẩn bị tiến công của đối phương.
    _________________________________
    1. Trích theo Một số trận quyết chiến chiến lược - Nxb QĐND, Hà Nội - 1978, tr. 26.

  3. #3
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    2. “Kiên thủ chờ suy, hoàn kích” trên chiến tuyến phòng ngự sông Như Nguyệt.

    Sau khi rút quân từ chiến trường Ung - Khâm - Liêm về nước, Lý Thường Kiệt đã ra lệnh điều động hàng vạn binh sĩ cùng với hàng vạn dân của các lộ thuộc miền trung du và châu thổ sông Hồng về tập trung tại vùng Thiên Đức (Từ Sơn - Hà Bắc) để xây dựng chiến tuyến sông Như Nguyệt. Chiến tuyến được xây dựng theo thế “hoành trận”, kéo dài từ mỏm núi Đền thuộc dãy Tam Đảo chạy theo hữu ngạn sông Như Nguyệt, thẳng sang hướng Đông, qua sông Lục Đầu (Phả Lại), nối vào sườn Tây núi ông Sư của dải Yên Tử. Chiến tuyến kéo dài khoảng 60 dặm (30km), được xây dựng theo hình thức đứt đoạn. Những nơi địch có khả năng tiến công vượt sông, quân ta đã tổ chức xây đắp chiến lũy kiên cố để chống lại. Mặt ngoài sông, chiến lũy đắp dựng đứng. Mặt trong đắp thoai thoải, có nhiều bậc để tiện cơ động chiến đấu. Dưới chân chiến lũy về phía mép sông có đóng nhiều cọc tre, cắm chông, làm dậu dày đến mấy tầng, tạo thành hệ thống chướng ngại dày đặc kiên cố. Sông sâu thành lũy cao, rào chắc... tất cả kết hợp lại một cách có tổ chức, tạo thành một tuyến phòng ngự có quy mô lớn, rất vững chắc.

    Chiến tuyến Như Nguyệt không những là một chiến tuyến vững mạnh, mà còn được kết hợp chặt chẽ với cả hệ thống thành quách, đồn ải ở phía Bắc như các thành Quảng Nguyên, Môn Châu, Quang Lang, Tô Mậu, Vĩnh An, các ải Quyết Lý, Giáp Khâu, Động Giáp... Cùng với các lực lượng thủy quân bố trí trên sông Đông Kênh, tất cả hợp lại hình thành thế trận phòng ngự có chính diện rộng, có chiều sâu. Đây là kiểu phòng ngự từng khu vực kết hợp với chiến tuyến. Từ thế trận này, ta có thể phát huy được đầy đủ sức mạnh của các lực lượng vũ trang trong chiến đấu, kể cả tiến công cũng như phòng ngự để đánh bại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của quân Tống.

    Lý Thường Kiệt đã khéo léo lợi dụng địa hình, địa thế có lợi của tuyến sông Như Nguyệt để tổ chức thành một chiến tuyến vững mạnh, buộc quân Tống phải chấp nhận một cuộc giao chiến chiến lược hoàn toàn bất lợi cho chúng. Hàng vạn quân Tống người phương Bắc phải lao vào đột phá phòng tuyến cực kỳ kiên cố ở cách xa hậu phương của chúng hàng năm, sáu trăm dặm, qua một vùng rừng núi hiểm trở, đường sá khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa thớt, đường vận chuyển lương thảo dễ bị cắt đứt.

    Trên trận tuyến Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã sử dụng một binh lực khoảng 3 vạn quân. Lực lượng này chia thành từng “vệ”, “quân” (tương đương với trung đoàn, tiểu đoàn) đóng thành từng trại dọc theo chiến lũy. Ở những nơi quan trọng như bến Thị Cầu, bến Như Nguyệt được bố phòng cẩn thận. Ngoài lực lượng bộ binh tinh nhuệ, phòng thủ ở đây còn có một số thủy binh, tổ chức thành từng thủy đội nhỏ trang bị chiến thuyền loại nhẹ, phối thuộc cho các “vệ” phòng ngự trên chiến tuyến làm nhiệm vụ thường xuyên tuần tiễu trên sông, sẵn sàng tiêu diệt các toán quân vượt sông do thám và triệt phá các phương tiện vượt sông của giặc. Một đội thủy quân lớn được phái ra vùng biển Đông Bắc (thời đó gọi là sông Đông Kênh) để chặn đánh mũi tiến quân của thủy binh Tống. Đạo quân này do thủy sư đô đốc Lý Kế Nguyên chỉ huy. Tuy không phải là lực lượng nằm trong đội hình trận tuyến Như Nguyệt, nhưng nó là lực lượng phối hợp tác chiến hết sức quan trọng, vì chỉ có đánh tan được thủy quân Tống, mới tạo điều kiện để chiến dịch phòng ngự Như Nguyệt thực hiện trọn vẹn được mục đích. Lực lượng của ta có khoảng trên 6 vạn quân, được tổ chức thành hai khối: bộ binh và thủy binh. Khối bộ binh có khoảng 4 vạn, do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy, được bố trí trên tuyến sông Như Nguyệt có chiều sâu đến Tiên Sơn, Từ Sơn và kinh đô Thăng Long. Khối thủy quân có khoảng 2 vạn và hơn 400 chiến thuyền, do hai hoàng tử Hoàng Chấn và Chiêu Văn chỉ huy, bố trí tại Vạn Lý (Phả Lại hiện nay). Riêng khối thủy quân còn có nhiệm vụ sẵn sàng cơ động ra sông Đông Kênh để tăng cường chi viện cho Lý Kế Nguyên khi cần thiết. Nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng phòng ngự chiến lược này là: khi địch đã bị chặn đứng trước phòng tuyến, không còn khả năng tiếp tục tiến công, buộc phải dừng lại củng cố hoặc chuyển sang phòng ngự, thì ta sẽ nhanh chóng chuyển sang phản công, tiến công vào sườn để tiêu diệt hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi quyết định của chiến tranh. Đây chính là chiến lược “kiên thủ chờ địch suy yếu rồi phản công” của Lý Thường Kiệt.

    Ngày 9 tháng 7, trên hướng cánh trái, tướng Tống Nhâm Khỉ chỉ huy một đạo quân chừng 1 vạn tên từ Khâm Châu chia thành 2 mũi thủy, bộ tiến đánh các trại Ngọc Sơn, Vĩnh An. Tại đây ta chỉ có một lực lượng nhỏ trấn thủ, nên sau một số trận giáp chiến, thấy không đủ sức chống đỡ, đã rút về phía sau, hai cứ điểm này đã lọt vào tay giặc.

    Đến tháng 11-1076, ta vừa hoàn thành công cuộc xây dựng chiến tuyến Như Nguyệt và triển khai xong thế trận chiến lược, thì quân Tống bắt đầu vượt biên giới, tiến công vào Vĩnh An và Quảng Nguyên. Đây là những cánh quân thực hiện kế sách vừa nghi binh “dương đông, kích tây”, vừa bảo vệ bên sườn, tạo điều kiện cho chủ lực tiến quân.

    Đầu tháng 12, trên hướng cánh phải, Yên Đạt và Khúc Chấn chỉ huy một đạo quân mạnh, khoảng 2 vạn tên, xuất phát từ Tư Minh, chia thành 2 mũi chính và kỳ cùng song song tiến đánh Quảng Nguyên. Tại Quảng Nguyên, tướng Lưu Kỷ chỉ huy khoảng 5 nghìn quân bản bộ đã kịp chặn đánh quyết liệt. Tại đây quân Tống bị thương vong nhiều. Quân ta chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bọn Yên Đạt và Khúc Chấn thấy không thể chiếm Quảng Nguyên bằng sức mạnh quân sự nên đã chuyển sang kế ly gián mua chuộc. Cuối cùng Lưu Kỷ đã bị mắc mưu chúng, thủ tiêu chiến đấu, đầu hàng giặc. Quảng Nguyên bị quân Tống chiếm đóng. Sau khi dùng mưu chiếm được Quảng Nguyên, Yên Đạt giao cho Khúc Chấn trấn giữ, còn y lui về Tư Minh để hội quân với Quách Quỳ.

  4. #4
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    2
    Ngày 8-1-1077, Quách Quỳ cho đại quân khoảng 30 vạn, trong đó có 10 vạn quân chiến đấu, từ Tư Minh chia thành nhiều mũi vượt biên giới, ào ạt tiến công sang nước ta. Hướng tiến công chủ yếu của chúng theo dọc đường Tư Minh, Lạng Sơn, Thị Cầu, Thăng Long. Hai đạo quân tả, hữu ở các căn cứ Quảng Nguyên, Vĩnh An và đạo quân thủy binh của Dương Tùng Tiên ở Hợp Phố (Liêm Châu) cũng đồng thời tiến công phối hợp với quân Quách Quỳ. Quách Quỳ trực tiếp chỉ huy đạo chính binh (lực lượng khoảng 10 vạn bộ binh và gần 1 vạn kỵ binh) tiến công trên hướng chủ yếu, theo trục đường Thiên Lý: Lạng Sơn, Chi Lăng, Thị Cầu, Thăng Long. Phó tướng Triệu Tiết chỉ huy đạo kỳ binh (lực lượng khoảng 5 - 6 vạn bộ binh và vài nghìn kỵ binh) tiến công theo hướng: Bằng Tường, Bình Giã, Vạn Nhai, Nhã Nam, xuống bến Như Nguyệt.

    Ngay từ đầu, Quách Quỳ đã gặp phải sự chống cự hết sức mạnh mẽ của thổ binh do Thân Cảnh Phúc chỉ huy. Tiến công được vài chục dặm, quân Tống buộc phải tổ chức đột phá ải Quyết Lý. Tại đây Thân Cảnh Phúc đã bố trí mấy nghìn quân có cả voi chiến, để cố thủ cửa ải. Tư Kỷ chỉ huy đội tiền quân Tống cố sức công kích nhưng đều bị đẩy lùi. Quân ta dựa vào thế đất hiểm, có tổ chức phòng ngự vững chắc để đánh trả quân địch hết sức quyết liệt. Thấy cầm cự lâu không có lợi, quân ta đã chủ động lui về tuyến sau cố thủ cửa ải Chi Lăng. Biết ải Chi Lăng không những là đất hiểm mà còn được xây đắp kiên cố, toàn bộ đạo quân của Thân Cảnh Phúc lại phục sẵn ở đây, Quách Quỳ cho một đội tiền quân tiến công vào chính diện để thu hút sự đối phó của ta ở mặt Bắc. Còn hai đạo quân mạnh của Yên Đạt và Thế Cự vòng qua phía Tây núi Cai Kinh, theo đường đất, đánh bọc vào sau Chi Lăng, tạo nên thế hai mặt trước sau cùng đánh. Từ trên thành lũy và hai bên sườn núi cao, quân ta dùng nỏ, “máy” bắn đá bắn vào đội hình xung phong của địch, đồng thời tượng binh xông ra phản kích. Quân Tống bị thương vong rất nhiều, nhưng lực lượng ở phía sau lên mỗi lúc một đông. Thấy tiếp tục cố thủ không có lợi, lợi dụng đêm tối, Thân Cảnh Phúc đã chỉ huy quân rút theo đường tắt, lui về phòng giữ căn cứ Động Giáp, chuyển sang đánh du kích phía sau lưng địch.

    Trong lúc đại binh của Quách Quỳ tiến công sang ta, thì đạo quân Nhâm Khỉ chỉ huy từ Vĩnh An đánh ngược lên Tô Mậu, Vị Thủ An trấn giữ tại đây, chống cự không nổi, đầu hàng giặc. Nhâm Khỉ cho quân theo hữu ngạn sông Lục Nam đánh xuống núi Nham Biền để trực tiếp bảo vệ sườn cánh trái của đại quân Quách Quỳ. Đạo hữu quân do Khúc Chấn chỉ huy, từ Quảng Nguyên đánh xuống Môn Châu. Hoàng Kim Mãn trấn giữ châu này đầu hàng giặc, thành Môn Châu nhanh chóng bị mất....

    Đạo quân Triệu Tiết (phó tướng) là một lực lượng đột kích chiến lược trên hướng thứ yếu, có sự yểm trợ trực tiếp của hữu quân Khúc Chấn phía sườn phải, nhanh chóng vượt biên giới, xuống Bình Gia, Vạn Nhai. Tại những nơi này ta chỉ có lực lượng nhỏ án ngữ, bởi thế Triệu Tiết đã nhanh chóng vượt qua, tiến thẳng xuống Nhã Nam và bến Như Nguyệt.

    Khoảng trung tuần tháng 1-1077, được tin đại quân Quách Quỳ vượt biên giới, theo kế hoạch đã định trước, Dương Tùng Tiên chỉ huy đạo thủy binh khoảng 5-6 vạn tên cùng vài trăm chiến thuyền loại lớn tiến vào hải phận nước ta. Hạm đội Tống tiến công theo đội hình hàng dọc, tiến quân với nhiệm vụ trinh sát, sau đó là trung quân, lực lượng chủ yếu, rồi đến hậu quân là đoàn thuyền lương. Dương Tùng Tiên không phát hiện được quân ta mai phục ở sông Đông Kênh, nên đã lệnh cho quân tiến gấp vào cửa sông Bạch Đằng. Khi chiến thuyền Tống đã lọt vào trận địa mai phục của ta, Lý Kế Nguyên phát lệnh tiến công. Bị đánh bất ngờ, Dương Tùng Tiên lúng túng; quân thủy Tống tuy lớn, có nhiều chiến thuyền hơn ta, nhưng là loại thương thuyền lớn nặng nề, cơ động chậm. Thủy binh chúng là quân ô hợp, thủy binh của ta là quân thiện chiến, lại dựa vào thế hiểm của miền duyên hải Đông Bắc để lập thành thế trận mai phục, dài tới vài chục dặm. Các thủy đội của ta đều dựa vào hải đảo hoặc cửa sông để triển khai lực lượng, bố trí thành thế trận nhỏ của từng thủy đội trong thế trận lớn của hạm đội dùng thuyền nhỏ nhẹ, cơ động hơn địch.

    Trong các trận giao chiến với ta, quân Tống đều thua lớn. Hơn trăm chiến thuyền địch bị đánh chìm, hàng vạn quân địch bị giết và bị bắt. Dương Tùng Tiên phải ra lệnh cho các chiến thuyền còn lại chạy về hướng đông để tránh bị ta tiêu diệt hoàn toàn. Phải mấy ngày sau y mới tập hợp được số chiến thuyền còn lại quay về vùng biển Liêm Châu, lập thủy trại cố thủ.

    Thắng lợi của trận hải chiến Đông Kênh không những làm thất bại hoàn toàn kế hợp vòng chiến lược của Quách Quỳ mà còn đẩy Quách Quỳ, Triệu Tiết vào hoàn cảnh không có phương tiện cho đại quân vượt sông.

    Đến ngày 21 tháng 1, sau 10 ngày tiến công, quân địch đã tới phía Bắc phòng tuyến sông Như Nguyệt. Lúc này đại quân Tống ráo riết hội quân, dàn trận, tập trung lực lượng lớn đóng đối diện trên hai hướng Thị Cầu và Như Nguyệt. Vì ta dùng kế nghi binh nên Quách Quỳ không nắm được cách bố phòng cụ thể của ta và nhất là y vẫn cố nán chờ thủy quân của Dương Tùng Tiên, nên còn lưỡng lự trong việc ra lệnh tiến công vượt sông đánh sang phòng tuyến sông Như Nguyệt. Trong lúc đó, Miêu Lý, tướng hữu quân xin lĩnh một đạo quân mạnh, có kỵ binh đi đầu, đánh một trận mở đầu có tính chất thăm dò và tìm hiểu thế trận của Lý Thường Kiệt.

    Vào một đêm đầu tháng 2-1077, tại bến sông Như Nguyệt, quân Tống lợi dụng đêm tối, bí mật bắc cầu phao qua sông. Mờ sáng, Miêu Lý tập trung lực lượng ưu thế, phá được một đoạn trong trận tuyến Như Nguyệt, chiếm được đầu cầu phía nam. Chúng thực hành thọc sâu về hướng Thăng Long. Các vệ quân chủ lực của ta lập tức cơ động đánh cắt ngang đội hình địch, chiếm lại trận địa đã mất, không cho quân Tống tiếp tục sang sông. Một bộ phận lực lượng dự bị của ta bố trí ở phía nam phản kích mãnh liệt vào chính diện và bên sườn đạo quân Miêu Lý. Quân Tống mới vượt qua Như Nguyệt khoảng 10 dặm thì bị vây tứ phía và bị thương vong lớn, nên phải vội vã rút chạy. Quân ta đuổi theo đánh gấp. Sợ ta thừa thắng tràn sang bờ Bắc, Vương Tiến sai quân phá cầu, làm cho đạo quân Miêu Lý mất đường rút chạy qua sông. Quách Quỳ phải ra lệnh đưa bè mảng sang sông để cứu nguy. Nhưng mọi tốp bè mảng của địch đều bị ta đánh tan. Một số quân Tống liều mạng nhảy xuống sông bơi sang bờ bắc. Miêu Lý dùng thuyền nhỏ, chạy thoát, còn phần lớn đạo quân này bị ta tiêu diệt.

    Sau trận Như Nguyệt, Quách Quỳ càng lo lắng đến vấn đề phương tiện vượt sông. Chờ mãi không thấy thủy quân của Dương Tùng Tiên mà y chưa biết đã bị thua to và rút chạy. Thấy không thể trì hoãn được mãi, Quách Quỳ buộc phải tập trung chế gấp các phương tiện vượt sông để tổ chức tiến công. Nhưng phương tiện vượt sông lúc này rất hạn chế, sức chở kém, tốc độ chậm, nên Quách Quỳ chỉ tổ chức tiến công vượt sông được trên hai đoạn chủ yếu ở Thị Cầu và bến Như Nguyệt. Trên từng hướng, mỗi đợt vượt sông chỉ chở được 500 đến 1.000 quân bằng bè mảng. Bởi thế, Quách Quỳ không tạo nên được sức mạnh đột phá liên tục trong quá trình tiến công.

    Với cách tổ chức tiến công của địch như vậy, chúng ở thế hoàn toàn bất lợi, nên đã nhanh chóng bị ta tiêu diệt một bộ phận và bị đẩy lùi. Qua nhiều đợt tiến công bị thất bại, hàng vạn quân bị chết, Quách Quỳ buộc phải ngừng tiến công để củng cố lực lượng, chuẩn bị thêm phương tiện và cố nán chờ thủy quân. Thấy địch lui quân về lập trận thế, Lý ThườngKiệt liền ra lệnh cho quân phòng ngự đánh sang bờ Bắc để tiêu hao địch và thăm đò tình hình đối phó của Quách Quỳ. Quách Quỳ sợ mắc kế nghi binh, nên đã ra lệnh “án binh bất động”, tăng cường cố thủ, đề phòng ta đánh úp. Tuy thế, các trại quân Tống vẫn liên tiếp bị từng toán quân nhỏ của ta lọt vào gây cho chúng nhiều tổn thất và rơi vào tình thế đối phó lúng túng, bị động.

    Cuộc tiến công đại quy mô vào phòng tuyến Như Nguyệt kéo dài 2 tháng, trong đó riêng trận quyết chiến tại sông Như Nguyệt diễn ra tới 40 ngày (18-1 đến 28-2-1077), với sự tập trung toàn lực gồm mấy chục vạn quân với nhiều thủ đoạn như: bí mật vượt sông, sử dụng lực lượng lớn ào ạt vượt sông, tập kích bất ngờ hoặc đột phá liên tục. Nhưng mọi thủ đoạn tiến công của quân Tống đều vô hiệu, hàng vạn tên đã bị giết ngay dưới sông và ở chân chiến tuyến. Quách Quỳ buộc phải ngừng tiến công, lùi về trại củng cố, chuẩn bị. Nhưng tình thế chiến tranh lúc này hoàn toàn bất lợi cho quân Tống: đường vận chuyển lương thực chiến lược từ Tống sang bị Thân Cảnh Phúc đánh phá liên tiếp, lương thảo cạn, số quân bị chết trận nhiều; số quân ốm và chết vì bệnh lên tới hàng vạn; tinh thần quân giặc nao núng, rã rời. Ta lại không những đánh phá, làm cho chúng tiếp tục thương vong. Khả năng xin thêm viện binh không có, mà chiến tuyến Như Nguyệt vẫn sừng sững trước mặt. Mấy vạn binh hùng tướng mạnh, chủ lực quân của Lý Thường Kiệt và lực lượng dự bị vẫn chưa ra quân, đấy là mối lo lớn nhất đối với quân Tống.

    Tình thể khốn quẫn buộc Quách Quỳ không còn chủ trương nào khác ngoài việc chấm dứt tiến công mà chuyển hẳn sang phòng ngự, cầm cự với Lý Thường Kiệt. Về phía ta, chiến dịch phòng ngự trên sông Như Nguyệt đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chủ yếu của nó là: “chặn đứng quân địch, làm địch thương vong suy yếu, tạo điều kiện cho phản công”.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    3. Thực hành “hoàn kích” với chiến dịch tiến công Bắc sông Như Nguyệt.

    Sau 3 tháng giao chiến với quân ta, bị thương vong lớn mà vẫn không đạt được mục đích chiến lược “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, quân Tống thực sự làm vào thế hoàn toàn bị động trên chiến trường cả về chiến lược và chiến thuật. Tống sử viết: “Quân ta (Tống) không sang sông được. Muốn đánh (tiến công) cũng không được”. Vì thế Quách Quỳ không thể có quyết định nào khác là phải chuyển hẳn từ thế công sang thế thủ. Tuy nhiên, với 6-7 vạn quân đã thương vong và vài vạn đang làm nhiệm vụ chiếm đóng ở tuyến sau, trong tay Quách Quỳ vẫn còn trên dưới 10 vạn quân để trực tiếp đối địch với Lý Thường Kiệt ngay trên chiến trường phía Bắc sông Như Nguyệt. Bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết còn ngoan cố trong âm mưu xâm lược. Chúng cho quân cố thủ nhằm tạo nên một trạng thái chiến đấu cầm cự giữa ta và địch về mặt chiến lược, ngăn chặn quân ta tiến công giành lại vùng lãnh thổ đang bị chiếm đóng, hòng biến thượng du miền Bắc nước ta thành đất đai của nhà Tống.

    Quân Tống chuyển vào phòng ngự trong điều kiện trực tiếp tiếp xúc phương tiện vật chất thiếu thốn. Vì thế, cách tổ chức phòng ngự của chúng là cắm binh hạ trại, lập thế dã chiến. Từ đội hình tiến công trên hai hướng của hai đạo “chính binh” và “kỳ binh”, khi chuyển sang phòng ngự, Quách Quỳ vẫn giữ nguyên tổ chức đó để lập thành hai cụm quân, hai tập đoàn phòng ngự lớn trên bờ Bắc sông Như Nguyệt, đối diện với chiến tuyến của ta. Cụm quân của Quách Quỳ có khoảng 6-7 vạn tên đóng tại Bắc Thị Cầu. Cụm quân của Triệu Tiết có khoảng 3-4 vạn tên, đóng ở phía Bắc bến Như Nguyệt. Hai cụm quân này cách nhau chừng 30 dặm. Ngoài ra còn thêm một đạo quân chiếm mũi Tiên Lát để giữ thế liên hoàn giữa hai cụm quân. Quách Quỳ và Triệu Tiết còn phái nhiều đội quân nhỏ chốt giữ những địa thế có lợi ở xung quanh, tạo thành tuyến phòng ngự vòng ngoài để trực tiếp bảo vệ cho căn cứ đại quân. Chúng tổ chức phòng ngự liên hoàn chặt chẽ, có thể ứng cứu lẫn nhau. Riêng từng cụm quân chúng đều thực hiện chiến thuật kiểu hình tròn, bản doanh và quân dự bị đóng ở giữa. Trên các hướng phòng ngự chủ yếu, chúng bố trí những đạo quân mạnh. Khối dự bị và kỵ binh được tập trung, sẵn sàng cơ động phản kích trên các hướng này.

    Hình thái chiến tranh đang thay đổi lớn, giống như một ván cờ đã đảo ngược thế trận của cả hai bên. Quân ta liên tiếp thắng lợi, tinh thần lên cao, khối dự bị chiến lược chưa dùng tới. Để đánh bại thủ đoạn chiến lược mới của địch khi chúng mới chuyển sang thế phòng ngự vội vã, chưa vững chắc, Lý Thường Kiệt quyết định tiến công.

    Về thế trận, ở phía Đông, Lý Thường Kiệt đã sử dụng khối thủy binh của hai hoàng tử Hoàng Chấn và Chiêu Văn gồm 2 vạn quân và 400 chiến thuyền lớn nhỏ. Đây là một lực lượng dự bị chiến lược cơ động quan trọng của Lý Thường Kiệt.

    Vì vậy, theo kế hoạch, Hoàng Chấn và Chiêu Văn được lệnh chỉ huy một đoàn chiến thuyền trở 2 vạn quân từ Vạn Xuân ngược sông Như Nguyệt, mở cuộc tiến công lớn vào sườn trái của khối quân địch ở dọc đường Thiên Lý (đường số 1 ngày nay) trước Thị Cầu, gồm cả đại bản doanh của Quách Quỳ. Đây là một đòn đánh rất hiểm vào sườn địch hết sức quan trọng. Hai hoàng tử đã chiếm được núi Nham Biền, rồi từ đó đánh thẳng vào doanh trại quán Tống. Với thế đánh từ bên sườn, dựa vào thế cao ở núi Nham Biền, quân ta tiến công mãnh liệt vào trận địa phòng ngự của địch mà Tống sử mô tả: “Vài vạn quân quát tháo, chửi mắng đến đánh”. Trước sức tiến công mãnh liệt của quân ta, quân Tống ở vòng ngoài chống cự không nổi, buộc phải rút chạy. Thừa thắng, quân ta chia thành nhiều mũi đánh sâu vào mặt Đông và Đông Nam cụm quân Quách Quỳ. Các trại quân phòng ngự tuyến ngoài của địch bị núng thế, chống đỡ lúng túng mà Tống sử ghi là “tiến quân bất lợi”. Sợ ta thừa thắng đánh tràn vào đại bản doanh, Quách Quỳ phải điều động phần lớn lực lượng dự bị, gần hết số 7.000 kỵ binh còn lại để ngăn chặn cuộc phản công của ta. Các viên tướng chủ chốt của đạo quân Quách Quỳ như Yên Đạt, Thế Cự, Vương Mãn, Lý Trường, Điền Chưng... đều phải cầm quân xuất trận để bảo vệ đại bản doanh của chủ tướng Quách Quỳ.

    Bị tổn thất nặng, nhưng địch vẫn cố gắng tăng quân, dựa vào địa thế bằng phẳng có lợi cho kỵ binh để thực hành phản kích. Quân ta phải tạm dừng vừa đánh vừa lui về khu vực cao điểm phía Tây của dải núi Neo (Nham Biền). Tại khu vực này, quân ta và kỵ binh địch quyết chiến với nhau, giành giật từng mỏm núi. Địch phản kích mạnh, quân ta phải rút lui xuống thuyền. Từ trên bờ, quân địch dùng “máy” bắn đá bắn theo dữ dội, làm cho một số chiến thuyền của ta bị đắm và gây thương vong nhiều cho quân ta, trong đó có cả hai hoàng tử Hoàng Chấn, Chiêu Văn.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    9
    Mặc dù bị tổn thất nhưng cuộc tiến công của thủy quân ta đã gây cho địch nhiều thiệt hại nặng về lực lượng và làm cho thế trận địch bị đảo lộn. Lợi dựng thời cơ, Lý Thường Kiệt cho 3 vạn quân trong đêm bất ngờ vượt sông ở sườn trái của địch ở bến sông Như Nguyệt, đánh vào sườn Tây của đạo quân Quách Quỳ, chiếm Việt Yên. Các đạo quân thừa thắng phát triển tiến công, đánh chiếm các trại quân Tống ở khu vực chùa Đổ, Tiên Lát và Ai Quan. Việt sử lược ký đã viết: “Thường Kiệt biết rằng quân Tống sức lực đã khốn, ban đêm sang sông đánh úp, đại phá được quân Tống 10 phần chết đến 5, 6, bèn lui giữ châu Quảng Nguyên”1. Cùng lúc đó một cánh quân của ta vốn là lực lượng phòng ngự ở biên giới đã dãn ra trong quá trình địch tiến quân vào nước ta, với gần 1 vạn quân, từ Bắc Sơn theo hướng Hiệp Hòa đánh vào sau lưng cụm quân Triệu Tiết. Trại địch bốc cháy, xác giặc chất thành đống. Thế trận giặc bị vỡ, số quân của Triệu Tiết bị diệt lên tới hơn 2 vạn tên. Triệu Tiết phải lên ngựa cùng với đội quân mở đường chạy về phía Đông, về với cụm quân Quách Quỳ.

    Hai cánh quân chủ lực của ta từ mặt Tây và mặt Đông như hai gọng kìm xiết chặt lấy chúng.

    Kết hợp với tiến công quân sự, Lý Thường Kiệt còn tiến công cả ngoại giao, đã cử người mang thư tới doanh trại của Quách Quỳ. Thư có câu: “xin hạ chiếu rút đại binh về, thì sẽ lập tức sai sứ sang tạ tội và triều cống”2.

    Trước tình hình nguy khốn vì bị thương vong lớn và ốm đau, thiếu lương thực, lại có nguy cơ bị cắt đứt đường rút quân, tinh thần chiến đấu của binh sĩ giảm sút, Quách Quỳ buộc phải thốt lên rằng: “Ta không đạp đổ sào huyệt giặc, bắt được Càn Đức để báo mệnh triều đình, đó là bởi trời. Thôi, ta đành liều một thân chịu tội với triều đình để mong cứu hơn 10 vạn nhân mạng”3 và đang đêm đã ra lệnh cho quân rút lui.

    Trong thế lui quân hỗn loạn, quân địch giẫm lên nhau để tranh đường về nước. Việt lược sử ký chép về cuộc rút quân như sau: “Quỳ muốn rút quân về, sợ giặc tập kích, bèn bắt quân khởi hành ban đêm, hàng ngũ không được chỉnh tề, tình hình hỗn loạn, giẫm xéo lên nhau”4. Thực tế, đây là cuộc tháo chạy tán loạn của bọn bại binh, bại tướng, do đó, quân Tống rút lui đến đâu, Lý Thường Kiệt cho quân tiến theo lấy lại đất đai đến đấy.

    Kết quả, theo sử sách của người Tống còn ghi lại, trong số quân Tống về tới Tư Minh chỉ còn 23.400 quân và 3.174 ngựa mà khi xâm lược nước ta, số quân cả chiến đấu và binh lính phục vụ lên tới 300.000 và 10.000 ngựa.

    Bài học lớn về quân sự trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1077 là Lý Thường Kiệt đã dùng phòng ngự có chiều sâu, có chiến tuyến vững chắc để ngăn chặn và chuyển sang phản công địch trên tuyến có lựa chọn theo một phương thức chiến lược phù hợp. Biết cuộc chiến tranh xâm lược nước ta của nhà Tống là không thể tránh khỏi, Lý Thường Kiệt đã bất ngờ tiến công phá chuẩn bị của chúng rồi bất ngờ rút lui. Tiếp đó, ông đã có kế hoạch phòng thủ đất nước, xây dựng một thế trận phòng ngự vững chắc, có chiều sâu từ biên giới tới sông Như Nguyệt.

    Trên phòng tuyến biên giới, Lý Thường Kiệt đã sử dụng quân địa phương các lộ của các động, để thực hiện đánh ngăn chặn. Sau khi địch vượt qua thì số quân này tiếp tục đánh phá giao thông tiếp tế chiến lược của địch và khi quân ta phản công thì đây cũng là một lực lượng quan trọng đánh vào sau lưng và bên sườn địch.

    Trung tâm của thế trận phòng ngự của Lý Thường Kiệt là phòng tuyến sông Như Nguyệt. Chiến tuyến này dài khoảng 637.000 bộ (30 km) chạy dài từ Chân núi Tam Đảo đến ngã ba sông Lục Đầu rồi tựa vào chân dãy núi Yên Tử. Đánh một đạo quân xâm lược người phương Bắc quen đánh trên địa hình trống trải, trung bình, có kỵ binh mạnh, Lý Thường Kiệt đã lợi dụng sông là một chướng ngại thiên nhiên, và dùng thủy binh Đại Việt mạnh hơn thủy binh Tống để kìm chế cái mạnh, khoét sâu cái yếu của đối phương, phát huy sở trường của ta. Lý Thường Kiệt nắm chắc địa hình chiến trường, biết rằng các con đường từ biên giới vào sâu đất nước ta đều phải hội tụ giữa hai dãy núi Tam Đảo và Yên Tử, nên đã xây dựng phòng tuyến phía Nam sông Như Nguyệt, sông Cầu, sông Lục Đầu, có cảng quân sự mạnh Vạn Xuân ở bên sườn đường tiến quân của địch. Lý Thường Kiệt đã bố trí binh lực có trọng điểm, vừa kiểm soát, bảo vệ được toàn bộ trận địa, vừa dễ dàng cơ động, có thể nhanh chóng tập trung quân đánh bại những mũi đột phá của địch hoặc tổ chức phản công vào sườn đối phương khi thời cơ đến.

    Trong quá trình tiến công, quân địch khó có thể vượt qua được một phòng tuyến theo kiểu như vậy. Khi đã bị chặn đứng lại, buộc phải chuyển sang phòng ngự, thì sẽ ở thế “cô quân” vì bờ Bắc sông Như Nguyệt là một vùng trung du của ít, người thưa, khí hậu khắc nghiệt đối với quân phương Bắc, xa hậu phương. Sau hai lần đột phá không thành công, quân của Quách Quỳ buộc phải chuyển sang phòng ngự một thời gian thì những mặt yếu của chúng bắt đầu bộc lộ, các tướng Tống đều thối chí than rằng: “lương ăn của chín đạo quân ta đã cạn, lúc ra đi có 10 vạn, phu có 20 vạn, vì nóng nực, lam chướng, quân phu chết quá nửa rồi, còn non nửa đều ốm”5.
    ___________________________________
    1 - 4. Việt sử lược ký, - Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1980.
    5. Trích theo Một số trận quyết chiến chiến lược, NXBQĐ, Hà Nội, 1978.

  7. #7
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Có thể nói, chiến tuyến sông Như Nguyệt là một công trình quân sự lớn của quân dân ta ở thế kỷ XI, được xây dựng một cách hợp lý, khoa học. Đặc điểm nổi bật của thế trận này là bố trí trên diện rộng, có chiều sâu, có trọng điểm, phối hợp chặt chẽ giữa quân chủ lực với quân địa phương nhằm đánh địch cả phá trước và sau lưng. Mặt khác Lý Thường Kiệt không chủ trương phòng ngự đơn thuần, bị động, mà ngay trong phòng ngự đã dự kiến những đòn phản kích của những cụm quân cơ động để thực hành tiêu diệt lớn quân địch, đánh trả quyết liệt những cuộc tiến công của chúng, kiên quyết phản kích khi chúng lọt vào trận địa; đồng thời kết hợp đánh ngăn chặn, tiêu diệt đạo thủy binh địch trên sông Đông Kênh, không cho chúng hội quân với nhau, đập tan khả năng sử dụng những phương tiện vượt sông. Ông cũng chủ trương đánh vào sau lưng địch bằng mọi thủ đoạn tập kích, phục kích, quấy rối, đánh phá giao thông vận tải chuyển lương thực của địch1. Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, Lý Thường Kiệt là người duy nhất thực hành thắng lợi phòng ngự có quy mô lớn theo kiểu chiến tuyến kết hợp với phản công.

    Từ hành động tiến công sang đất địch, phá bàn đạp tiến công của chúng, tranh thủ thời gian thực hành chuẩn bị ở trong nước, làm cho địch bị suy yếu phải chuẩn bị lại, để ta có điều kiện xây dựng phòng tuyến, đến hành động phòng ngự kiểu chiến tuyến theo sông nhằm chặn đứng quân địch, phát huy thế mạnh của ta, khoét sâu chỗ yếu của địch, đánh địch cả bằng chặn trước đánh sau, buộc quân địch phải chuyển từ tiến công sang phòng ngự, tạo điều kiện và thời cơ để thực hành phản công. Đây cũng là một bài học lịch sử vô cùng quy báu về sự kết hợp chặt chẽ, quan hệ hữu cơ giữa phòng ngự với tiến công.

    Để phòng ngự với mục đích ngăn chặn, tiêu diệt bộ phận, tạo điều kiện cho phản công và tiến công, phải chọn nơi địa hình cho phép chặn đứng được quân đội đối phương và tạo được thế cho lực lượng phản công tiến công. Trong trận trên sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã chọn thế lợi ở hai sườn địch để khi phản công ta có thể từ sườn đánh vào đại bản doanh địch ở khu vực Việt Yên. Dãy núi Neo sừng sững trước cánh đồng dọc đường số 1 là một địa lợi cho cánh quân dự bị chiến lược gồm 20.000 thủy binh đóng ở Vạn Xuân (Phả Lại) trên Lục Đầu Giang có thể cơ động theo sông Thương, sông Lục Nam, sông Cầu, sông Đống, sông Hồng, sông Thái Bình và sông Kinh Thầy vào các khu vực đồng bằng và trung du Bắc Bộ cũng như ra sông Bạch Đằng và ra biển Đông. Vạn Xuân từ thời Lý đến thời Trần luôn luôn là căn cứ thủy binh trên sông hết sức quan trọng về mặt chiến lược đối với đồng bằng và trung du miền Bắc Việt Nam. Cho nên chọn Vạn Xuân là nơi tập kết của 20.000 thủy binh với 400 chiến thuyền do hai hoàng tử Hoàng Chấn, Chiêu Văn chỉ huy sẵn sàng cơ động chặn thủy quân giặc và phản công vào sườn cánh quân của Quách Quỳ theo đường Thiên Lý khi chúng tiến đánh Thăng Long.

    Trong thế trận Như Nguyệt - Vạn Xuân, với số quân trên 6 vạn, ta không thể không thấy tác dụng hết sức quan trọng của 2 vạn thủy binh đánh thẳng vào sườn đại bản doanh Quách Quỳ, làm cho thế trận phòng ngự của quân Tống đảo lộn, và cũng như Việt sử lược đã ghi: “Mùa thu tháng bảy Tống lấy Quách Quỳ làm tuyên phử sứ, Triệu Cao (Triệu Tiết) làm chiêu thảo sứ, thống lĩnh tướng quân tới đánh nước ta, vua sai Nguyễn (Lý) Thường Kiệt đem quân thủy binh chống lại. Hai hầu Chiêu Văn, Hoàng Chấn đều bị chết. Hai quân giữ nhau ở sông Như Nguyệt hơn một tháng, Thường Kiệt biết rằng quân Tống sức lực đã kiệt, ban đêm sang sông đánh úp đại phá được quân Tống, 10 phần chết đến 7 và lui giữ châu Quảng Nguyên”.

    Ta không thể căn cứ vào câu viết có tính chất xuyên tạc của Tống sử “vài vạn quân quát tháo, chửi mắng đến đánh, hai hầu Hoàng Chấn, Chiêu Văn bị chết đuối, quận Đại Việt phải rút lui” mà cho là cánh quân 20.000 quân thủy binh thiện chiến tiến công thẳng vào đại bản doanh Quách Quỳ, buộc các tướng của Quách Quỳ đều phải thân trinh xuất trận là hướng nghi binh, mà đánh giá thấp cuộc tiến công của hai hầu Hoàng Chấn và Chiêu Văn được. Có cánh quân tiến công này thì thế trận phòng ngự của quân Tống mới bị đảo lộn và tạo điều kiện cho cánh quân phía Nam sông Như Nguyệt vượt sông ban đêm tập kích vào quân địch như Việt sử ký nêu.

    Do đó, đứng về nghệ thuật quân sự mà xét ta thấy, với thế, lực mạnh của quân Đại Việt thiện chiến như Trần Hưng Đạo đã nói với vua Trần, quân ta đã chủ động phá chuẩn bị, đánh sâu đất địch trên 100 cây số để tranh thủ thời gian chuẩn bị phòng thủ đất nước. Và cuối cùng với thế lực mạnh ấy, ta đã dùng chiến lược kiên trì phòng ngự làm địch suy yếu, rồi chuyển sang tiến công trên một thế trận có chuẩn bị trước để phá tan quân xâm lược trong có gần 3 tháng kể từ lúc địch đưa đại quân vượt biên giới đánh vào nước ta.
    ___________________________________
    1. Trích theo Một số trận quyết chiến chiến lược, NXBQĐ, Hà Nội, 1978.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3

    II
    ĐẠI THẮNG MÔNG – NGUYÊN THỜI TRẦN THẾ KỶ XIII



    Ở thế kỷ VIII, trong vòng ba chục năm, dân tộc Việt Nam đã tiến hành liên tiếp ba cuộc kháng chiến, giành thắng lợi oanh liệt trước một đối tượng xâm lược hùng mạnh và tàn bạo vào bậc nhất trong lịch sử lúc đó, đế quốc Mông - Nguyên.

    Nhiều nhà sử học trên thế giới và trong nước đã, đang và sẽ còn nghiên cứu, miêu tả, phân tích ngày càng rõ ràng, chính xác hơn về quá trình bành trướng của đế quốc Mông Cổ nói chung và 3 cuộc kháng chiến quyết liệt và tài tình của dân tộc Việt Nam nói riêng. Dựa trên những tài liệu lịch sử hiện có, chúng tôi sẽ cố gắng không lặp lại việc miêu tả, mà chú trọng phân tích trên góc độ nghệ thuật chiến tranh, tìm hiểu xem vì sao và bằng cách nào một nước nhỏ, dân thưa, quân ít, tiềm lực có hạn, lại có thể đứng vững, đánh thắng và chặn đứng tên xâm lược khổng lồ, lắm quân, nhiều ngựa, thuyền, khí giới, điều dộng từ một vùng đất mênh mông đã chinh phục được, buộc chúng phải từ bỏ mộng tưởng thâu tóm và nô dịch thế giới.

    Kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh, muốn buộc một kẻ địch mạnh từ bỏ mục tiêu xâm lược thì không có cách nàokhác là phải đánh bại ý chí xâm lược của nó bằng cách phá các biện pháp chiến lược chủ yếu và tiêu diệt bộ phận lực lượng chiến lược của nó.

    Quân dân Đại Việt đầu triều Trần đã làm được điều đó. Với ý chí sắt đá bảo vệ độc lập, chủ quyền, với tình đoàn kết keo sơn cả nước một lòng, với tinh thần xả thân, sẵn sàng chịu đựng và vượt qua những hy sinh, tổn thất to lớn, và quan trọng nhất là với tầm cao của trí tuệ và sức sáng tạo trong vận dụng nghệ thuật quân sự, tổ tiên ta trong cuộc đọ sức chênh lệch này đã càng đánh càng mạnh, càng chủ động dồn địch vào thế càng hung hăng thì càng bị động, càng thua lớn cuối cùng phải cam chịu thảm bại.

    Quá trình không diễn ra đơn giản, trơn tru, mà có vấp váp có thất bại tạm thời, có hiểm nguy căng thẳng. Đó là quá trình tìm hiểu, nhận thức đối tượng, sử dụng các biện pháp để tìm ra biện pháp có hiệu quả nhất nhằm chiến thằng địch.

    Như chúng ta đều biết, ba lần đọ sức của quân dân Đại Việt với đế quốc Mông Cổ diễn ra trong khoảng thời gian 30 năm, trong các bối cảnh khác nhau. Lần thứ nhất (1258) diễn ra sau khi đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn thành lập từ năm 1206, đã bành trướng nhanh chóng ra đại bộ phận lục địa Á - Âu từ bờ Bắc Hải tới Thái Bình Dương diệt Tây Hạ, diệt Kim, Tây Liêu chiếm Triều Tiên, diệt Tống, đẩy Tống xuống phía Nam Trường Giang, rồi quay sang chiếm Trung Á, chiếm vùng Lưỡng Hà, lập ra nước Hãn Ba Tư, chiếm đại bộ phận nước Nga, chiếm Ba Lan, Hung-ga-ri, lập ra nước Hãn lều vàng (Kim Trường). Để chuẩn bị tiêu diệt Nam Tống, một cánh quân Mông Cổ đã đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam ngày nay). Lần đọ sức thứ hai (1285) và thứ ba (1288) diễn ra khi đại hãn Khu Bi Lai (Hốt Tất Liệt) đã hoàn thành việc tiêu diệt Nam Tống, thâu tóm toàn Trung Quốc và thành lập triều đại Nguyên, tiến đánh Miến Điện và Chiêm Thành.


    Lần kháng chiến thứ nhất (1258)

    Đặc điểm của lần xâm lược này là nó được tiến hành với mục đích lấy đất Đại Việt để tổ chức mũi vu hồi sau lưng Nam Tống. Nếu chiếm được Đại Việt thì chúng sẽ định kế ở lâu dài nhưng không đặt nhiệm vụ này ưu tiên hơn việc đánh Nam Tống. Chính vì vậy, số quân được sử dụng không nhiều, chỉ gồm từ 2 đến 3 vạn quân Mông Cổ và 2 vạn quân đầu hàng của vua Đại Lý, tổng số là 4 - 5 vạn tên. Tuy nhiên đây cũng là 1 đạo quân kỵ mạnh do tên tướng giỏi và nhiều kinh nghiệm U-ri-ăng-kha-đai chỉ huy.

    Về phía ta, theo dõi sát quá trình xâm lược, bành trướng của đế quốc Mông Cổ do những người lái buôn Tây Dương, Ba Tư, Ấn Độ, Tây Vực... tới buôn bán ở vùng ven biển nước ta cung cấp và tìm hiểu qua việc giao thiệp với triều Tống, triều đình và nhân dân Đại Việt đã sớm nhận thấy làn sóng xâm lược đang tràn tới từ phương Bắc. Vì vậy, ngay từ khi mới lên cầm quyền, triều Trần đã tiến hành nhiều biện pháp chuẩn bị để tăng cường sức mạnh giữ nước. Tuy nhiên, do chưa trực tiếp đánh nhau với địch, quân dân ta chưa thể đánh giá thật xác đáng về sức mạnh của quân xâm lược cũng như sở trường, sở đoản của chúng.

    Với số quân cấm vệ và quân các lộ gồm mười vạn người, có đủ các binh chủng bộ binh, kỵ binh, tượng binh và thủy binh đã được thao luyện chu đáo nên triều đình nhà Trần đã đề ra kế hoạch chặn địch và tiêu diệt chúng trước kinh thành Thăng Long. Nhưng đồng thời, cũng dự kiến phương án khi cần sẽ rút khỏi kinh thành.

    Theo kế hoạch đó, cuối tháng 12 năm 1257, khi nhận được tin cấp báo địch đã vượt biên giới, vua Trần lập tức “thân đem sáu quân đi chống giặc”1.

    Trong trận đánh chặn ở Bình Lệ, mặc dù nhà vua “thân tự cầm quân đốc chiến, đi trước công phá tên đạn”2, các tướng lĩnh, tiêu biểu là Lê Tần hết sức bình tĩnh dũng cảm, binh sĩ chiến đấu gan dạ, nhưng tượng binh của ta không phát huy được sức mạnh công phá trận địch như dự kiến, lại bị quân thiện xạ đánh lui, trận địa bị núng trước làn sóng xung kích mãnh liệt của kỵ binh thiện chiến của địch.
    __________________________________
    1. “Để thân xuất lục sứ ngự khẩu”.
    “Lục sứ”, tức sáu quân, là các quân Thiên Thuộc, Thiên Chương, Thánh Dực, Chương Thánh, Thần Sách, Củng Thần. Đó là toàn bộ quân chủ lực của nhà Trần lúc đó.
    2. Đại Việt sử ký toàn thư bản ký, Quyển 5, tờ 22a.

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Lần kháng chiến thứ hai (1285)

    Đặc điểm của lần kháng chiến thứ hai này là quân xâm lược Mông Cổ đã tiêu diệt xong nhà Tống, thành lập triều đại Nguyên và lấy Đại Việt làm mục tiêu chính và trực tiếp của hành động tiếp tục bành trướng xuống phương Nam. Vì vậy địch đã huy động một lực lượng khổng lồ là 50 vạn quân tiến vào nước ta từ hai hướng Đông Bắc và Tây Bắc, phối hợp với gần 10 vạn quân đã ở sẵn Chiêm Thành, đánh ra nước ta từ phía Nam. Về mặt chiến cụ và lương thực, địch cũng chuẩn bị kỹ càng và đầy đủ hơn lần trước nhiều.

    Về phía ta, sau mấy chục năm bồi dưỡng sức dân, tăng cường lực lượng của triều đình cũng như của vương hầu quý tộc và dân binh ở các địa phương, sức mạnh giữ nước của dân tộc ta đã trưởng thành vượt bậc. Ngoài ra, công việc chuẩn bị động viên tinh thần cho quân dân được tiến hành hết sức chu đáo. Triều đình nhà Trần đã định ra kế hoạch phòng giữ tỷ mỹ, có tập duyệt ngay tại các vùng dự kiến sẽ có giao chiến với giặc.

    Rút bài học kinh nghiệm của lần kháng chiến thứ nhất và xét tinh hình cụ thể của lần tiến quân này của giặc, triều Trần đã bố trí nhiều tuyến ngăn chặn mạnh trên hướng đông bắc để làm chậm, tiêu hao và nếu điều kiện cho phép thì chặn đứng và tiêu diệt, không cho chúng vào Thăng Long, đồng thời cũng chuẩn bị kỹ cho phương án rút bỏ kinh thành và cơ động tránh giặc theo đường sông và đường biển.

    Nhưng vì điều kiện địch đã khác trước rất xa nên diễn biến của lần kháng chiến này rất phức tạp, xuất hiện những tình huống đòi hỏi từ vua quan đến tướng sĩ và nhân dân Đại Việt phải cố gắng và sáng tạo cao độ mới giành được thắng lợi.

    Ngày 27-1-1285, đại quân dịch trên hướng Đông Bắc tiến vào Lộc Bình. Những cuộc ác chiến diễn ra giữa ta và địch suốt theo chiều sâu từ biên giới xuống. Qua 6 ngày kịch chiến và chịu nhiều tổn thất, địch đến được trước ải Nội Bàng, một trong điểm phòng ngự do đích thân tiết chế Trần Quốc Tuấn chỉ huy. Ngày 2-2-1285, quân địch chia làm 6 mũi tiến đánh Nội Bàng. Với lực lượng tại chỗ, Trần Quốc Tuấn định chặn đứng đường tiến quân của giặc. Nhưng quân giặc quá đông, tiến đánh ào ạt, trong lúc đó, một cánh quân khác của địch đã vượt qua được ải Khâu Ôn và Lao Thủ (Chi Lăng). Tình thế buộc vị tướng soái phải chọn lựa: hoặc là tiếp tục chặn địch, một việc khó thực hiện, hoặc rút đi tạm tránh cái mạnh nhất thời của địch để khỏi bị tổn thất nhiều. Và Trần Quốc Tuấn, vị tướng tài trí, nhà chiến lược đã viết Binh thư yếu lược, và Vạn Kiếp tông bí truyền thư, đã xử trí đúng như tình thế đòi hỏi, lui quân về Vạn Kiếp. Làm như vậy, Trần Quốc Tuấn đã thực hiện điều mà bản thân đã từng suy nghĩ “vì là biết khó mà lui, lường thế không thể thắng được, bèn thu vén quân mà rút lui, hơn là tiến để mà mất vậy”1.

    Cuộc lui quân về Vạn Kiếp được thực hiện tốt theo một kế hoạch chặt chẽ. Tại phòng tuyến này, các vương hầu đem quân đến hội, theo sử chép, tổng số quân lên tới 20 vạn. Một lần nữa, Trần Quốc Tuấn đã bố trí tại đây một tuyến phòng ngự mạnh, dựa vào thế sông và thế núi vùng Vạn Kiếp, Bình Than, Phả Lại. Với số quân chủ lực lớn và với thế bố trí này, ta thấy ông vẫn có ý định chặn bước tiến của giặc ở đây. Đồng thời, ông cũng tăng cường chiều sâu phòng tuyến để giữ an toàn đường lui quân về Thăng Long, không cho địch có thể vu hồi, bọc hậu.

    Hai khối quân chủ lực lớn đối mặt nhau. Địch mạnh về quân kỵ, ta mạnh về quân thủy. Thoát Hoan và U-ri-ăng-kha-đai buộc phải dừng lại, đóng thuyền chiến cấp tốc tổ chức một đội quân thủy lớn giao cho Ô Mã Nhi thống lĩnh. Sau mười ngày hối hả chuẩn bị, ngày 11-2-1285 đích mở đợt tiến công mới vào phòng tuyến Bình Than - Vạn Kiếp. Cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt. Vua Trần thân dẫn quân Thánh Dực và hơn 1.000 thuyền chiến đến tăng viện cho Trần Quốc Tuấn. Địch bị tổn thất lớn, nhưng cậy quân đông vẫn liều mạng công kích, quyết phá vỡ trận địa ta. Kéo dài cuộc chiến sẽ không có lợi, vì vậy ngày 14-2-1285, quân ta rút khỏi phòng tuyến. Vua Trần và Trần Quốc Tuấn đem binh thuyền theo sông Đuống, về Thăng Long, rồi từ đó tổ chức cuộc sơ tán triều đình và dân kinh thành.

    Ngày 19-2-1285, sau nhiều trận bị chặn đánh, quân giặc mới vào được Thăng Long, sau khi triều đinh và quân đội đã rút lui an toàn về Thiên Trường. Cánh quân của Trần Nhật Duật, sau khi hoàn thành việc đánh chặn cánh quân Tây Bắc của địch, đã về hội với quân triều đình ở đây.

    Địch vào Thăng Long, vẫn chỉ chiếm được một tòa thành trống như đã diễn ra năm 1258. Nhưng với một số quân đông hơn trước gấp nhiều lần và với một số lượng lương thực đủ ăn trong mấy tháng. Thoát Hoan vẫn còn hung hăng và điên cuồng muốn đuổi theo tiêu diệt quân ta.

    Như vậy, ý định của ta tiến hành phòng ngự chiến lược để chặn đứng quân địch không thực hiện được, bởi vì ý định đó tuy đã dựa trên sự tính toán về lực lượng địch ta, nhưng vẫn chưa thật sát với tình hình mới của năm 1285 này. Địch mạnh hơn ta dự kiến và tràn đầy kiêu ngạo, ngông cuồng, tin chắc sẽ nuốt chửng được Đại Việt, một nước nhỏ.
    _________________________________
    1. Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, trang 385.

  10. #10
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Phải rút khỏi phòng tuyến, lại bỏ ngỏ kinh thành cho giặc, chúng ta đã đạt được một thắng lợi quan trọng, là chuyển từ phòng ngự chiến lược sang rút lui chiến lược một cách tài tình. Một đội quân lớn, một tổ chức triều đình đồ sộ đã di chuyển và phân tán tại chỗ theo một kế hoạch chặt chẽ, một trật tự hoàn bị, không để xảy ra rối loạn khiến địch có thể lợi dụng. Đây là điều hiếm thấy trong lịch sử chiến tranh. Đây cũng là điều kiện quan trọng quyết định để tiếp tục đưa cuộc kháng chiến vượt qua những thử thách hiểm nghèo và giành thằng lợi cuối cùng.

    Vào tới Thiên Trường, Trường Yên, quân ta lại tập hợp được một lực lượng đông đảo. Tại đây, bộ chỉ huy quân Đại Việt phải lo đối phó với địch ở cả hai mặt Bắc và Nam. Đối với đại quân Thoát Hoan từ phía Bắc tiến xuống, thì sau khi Trần Bình Trọng chặn đánh tại khúc sông Thiên Mạc và anh dũng hy sinh, áp lực của địch càng mạnh. Đích thân Trần Quốc Tuấn cùng với Phạm Ngũ Lão lại đem hơn 1.000 thuyền chiến từ Long Khánh ngược sông Thái Bình kéo lên đóng lại tại Vạn Kiếp chơi trò xoay vòng với giặc, tạo thành thế uy hiếp sau lưng chúng, khiến cho Thoát Hoan, với số quân rất lớn, vẫn kinh hoàng vì “bị treo lơ lửng ở giữa”1. Để lo đối phó với quân Toa Đô từ Chiêm Thành tiến ra, Trần Quốc Tuấn đã cử Trần Nhật Duật vào trấn giữ Nghệ An, Trần Kiệm vào trấn giữ Thanh Hóa và tiếp đó, lại đề nghị vua Trần cử Trần Quang Khải vào Nghệ An tăng viện cho Trần Nhật Duật. Nhưng khi Trần Nhật Duật vừa vào tới Nghệ An và Trần Quang Khải chưa vào kịp, thi Toa Đô đã đem quân tiến ra.

    Trần Nhật Duật không cản được, phải rút lui. Giặc thẳng đường tiến ra Thanh Hóa. Thêm một biến cố bất ngờ làm tăng thêm khó khăn cho ta. Ngày 8-3-1285, Trần Kiệm tuy có trong tay một vạn quân để trấn giữ Thanh Hóa nhưng đã đầu hàng giặc, tạo một lỗ hổng lớn trên tuyến phòng giữ mặt Nam. Do sự phản bội của bọn Trần Kiệm, giặc đã tập kích, gây tổn thất cho trại quân ta ở Vệ Bố và cho toán quân của Trần Quang Khải khi ghé thuyền vào bến Phúc Tân.

    Quân triều đình đứng giữa hai gọng kìm của địch: quân Thoát Hoan từ mặt Bắc đánh xuống Thiên Trường, quân Toa Đô từ mặt Nam đánh vào Trường Yên. Tình thế trở nên nguy kịch. Nếu không xử trí nhanh chóng và quyết đoán thì quân ta (gồm cánh quân vua Trần và cánh quân của Trần Quốc Tuấn mới từ Vạn Kiếp quay về tiếp ứng) sẽ khó tránh khỏi hiểm họa. Vua Trần và tiết chế Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một cuộc thoát hiểm đầy mưu trí: mau lẹ và bí mật đưa toàn quân rút ra cửa biển Giao Hải, xuống thuyền ra biển. Để tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc rút lui, ta đã dùng mưu cầu hòa để giặc ngừng tiến quân. Vì vậy, chỉ sau khi vồ hụt vào chỗ trống, giặc mới biết là ta đã “đưa cả nước đi ra biển” (nguyên văn: “cứ quốc hàng hải”). Giặc chưng hửng vì mất mục tiêu, điên cuồng lùng sục và bắt bớ, nhưng không đạt kết quả gì ngoài việc làm cho mấy tên quý tộc bạc nhược như Trần Tú Hoãn, Trần Ích Tắc phải ra hàng để chịu chung tình cảnh khốn quẫn với chúng.

    Trong khi đó, vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã chuẩn bị kế hoạch phản công. Bằng nhiều hành động đánh lạc hướng giặc, hai cánh quân lại trở về vị trí cũ: Trần Quốc Tuấn về Vạn Kiếp, hai vua Trần về Thanh Hóa, nơi cánh quân Toa Đô đã đi qua.

    Đạo quân khổng lồ của Thoát Hoan sau bốn tháng loay hoay mãi không thi thố được sở trường, không tìm được đối phương để giao chiến, sức chiến đấu của chúng giảm sút rõ rệt, phần vì bị tổn thất qua các cuộc đụng độ với quân địa phương và dân binh, phần vì bệnh tật do không quen khí hậu, thời tiết. Nhưng điều nguy ngập lớn nhất của địch là hết lương ăn mà hệ thống đường tiếp tế từ Thăng Long lên biên giới lại luôn bị đánh chặn, không duy trì được. Do khó khăn đột xuất này mà hai đạo quân Thoát Hoan, Toa Đô mấy tháng trước còn tìm mọi cách để gặp nhau, nay đã gặp nhau rồi lại không cưu mang được nhau nữa, Thoát Hoan buộc phải lệnh cho Toa Đô đóng lại ở Trường Yên để “kiếm lương”, “đóng cách đại bản doanh hơn hai trăm dặm”2.

    Giặc quẫn bách, thời cơ phản công chiến lược đã tới. Rất nhạy bén, quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn lại nhanh chóng vào Thanh Hóa cùng vua Trần và thượng tướng thái sư Trần Quang Khải hoạch định kế hoạch phản công.

    Tháng 5 năm 1285, Trần Quốc Tuấn cùng với Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đem quân ra Bắc, còn cụm quân vua Trần ở lại Thanh Hóa để thanh toán cánh quân Toa Đô. Theo kế hoạch cánh quân ra Bắc phân làm hai tập đoàn kỳ, chính: Tập đoàn quân của Trần Quang Khải đánh hệ thống đồn giặc trên sông Hồng phía Nam Thăng Long rồi tiến lên giải phóng kinh thành, tập đoàn quân của Trần Quốc Tuấn sẽ đi vòng qua các lộ phía Đông, tiến về Vạn Kiếp, nơi đã có quân các vương hầu chờ đón để cùng tiến đánh quân địch từ phía sườn và phía sau, tiêu diệt quân địch rút chạy. Lúc này quyền chủ động đã hoàn toàn nằm trong tay ta, tình hình diễn biến không ngoài dự kiến của quốc công tiết chế. Đặc điểm nổi bật trong lần tiến công chiến lược này là bên cạnh mưu kế hoàn hảo, còn có sự thực hiện kiên quyết, phối hợp chặt chẽ giữa chính binh và kỳ binh. Có thể coi tập đoàn quân của Trần Quang Khải đánh vào hệ thống đồn lũy dọc sông Hồng và vào Thăng Long là chính binh, còn tập đoàn quân của Trần Quốc Tuấn ở Phả Lại đánh vào sườn và phía sau địch giữ vai trò kỳ binh. Nhận định như vậy cũng chỉ là tương đối, bởi vì, như binh pháp cổ đã nói: “Phàm chiến đấu, lấy đạo chính để hợp, lấy đạo kỳ để thắng. Cho nên người giỏi dùng kỳ thì vô cùng như là trời đất, không hết như là sông biển... Thế chiến thắng chẳng qua chính với kỳ, chính kỳ biến hóa không cùng vậy. Chính kỳ sinh ra nhau như vòng xoay tròn không có đầu mối ai biết thế nào là cùng”3.
    _________________________________
    1. Nguyên sử, quyển 13, trang 8b.
    2. Nguyên sử, quyển 129, trang 8.
    3. Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, năm 1970, trang 253.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •