Kết quả 1 đến 10 của 10
  1. #1
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1

    Đọc báo, nhâm nhi caphê sáng

    Hơn một tháng qua, chiến sự ở Libya ngày càng nóng bỏng. Lực lượng chống đối nhờ có sự tiếp sức từ các cuộc không kích liên tục của NATO nhằm vào các mục tiêu của quân đội chính phủ Libya, nên đã mở rộng được phạm vi chiếm đóng và kiểm soát. Cùng với nguồn tiền tài trợ từ Mỹ và sự hợp tác huấn luyện quân sự của Anh, khả năng chiến đấu của lực lượng chống đối tại Libya ngày càng tăng.

    Theo nhận định của báo chí phương Tây và các nhà phân tích quân sự, lực lượng chống đối ở Libya đã có thể bị tan rã nếu như họ không níu kéo sự hỗ trợ từ các nước phương Tây, những thế lực đang muốn bằng mọi cách phải nhấn chìm chế độ của Tổng thống Moammar Gadhafi.

    Tin từ hãng Telegraph cho hay, với sự giới thiệu của một sĩ quan tình báo Anh, phóng viên của tờ báo này đã được "mục sở thị" một lớp huấn luyện quân sự ngay tại thành phố Benghazi, nơi đang diễn ra các cuộc đấu súng nảy lửa giữa quân đội chính phủ và lực lượng chống đối Libya. Người đảm nhiệm vị trí hướng dẫn viên cho các học viên trong lớp là Ben Farmer, một cựu binh của Anh.

    Ông này có trách nhiệm giới thiệu cho các học viên những loại súng khác nhau và cách sử dụng chúng, từ súng ngắn cho đến các loại súng hạng nặng khác. Sau các giờ học lý thuyết, những học viên này có thể sẽ được thực hành tập bắn tại một vùng đất rộng hơn ở ngoại ô thành phố rồi được đưa trở lại để tập tham chiến với những người khác.

    Một giảng viên đang dạy các học viên của lực lượng chống đối Libya cách sử dụng súng.

    Yêu cầu đối với mỗi học viên tham gia khóa học là phải sử dụng thành thạo các loại súng, kể cả súng phóng lựu. Mỗi khóa học chỉ kéo dài từ 7-10 ngày và chỉ có khoảng 30 học viên trong một lớp. Ngoài ra, "thầy giáo" Ben Farmer còn có trách nhiệm phải dạy các học trò mình cách ngụy trang và một số thủ thuật khác trong chiến đấu. Một thủ lĩnh cấp cao của phe đối lập cho hay, họ hy vọng, những khóa học này sẽ cung cấp cho các chiến binh trẻ kỹ năng chiến đấu và đánh bại quân đội của Tổng thống Moammar Gadhafi.

    Qua tìm hiểu, phóng viên hãng Telegraph khẳng định, những khóa học kiểu này đã được lực lượng chống đối tại Libya tổ chức từ hồi giữa tháng 2. Ban đầu, tham gia huấn luyện có một số cựu binh Libya, những người tự nguyện rời bỏ chính quyền Tổng thống Moammar Gadhafi để tham gia Hội đồng dân tộc quốc gia thành lập tại thành phố Benghazi.

    Monem Muktar Mohammed, người được cho là cầu nối của lực lượng đối lập Libya với tàn quân Taliban và mạng lưới khủng bố Al-Qaeda.

    Sau đó, chính những cựu binh này đã làm mối giúp lực lượng chống đối liên hệ với các cựu sĩ quan CIA (Mỹ) tham gia giảng dạy. Các khóa giảng dạy này được thực hiện cả ở Ras Lanuf, Ajdabiya và Brega.

    Gần đây nhất, Bộ trưởng Ngoại giao Libya Abdul Ati al-Obeidi đã cáo buộc Anh khiến tình hình chiến sự ở nước này thêm nóng bỏng với thông tin rằng Anh đã cử một nhóm chuyên gia quân sự gồm 10 người đến làm cố vấn cho lực lượng chống đối tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào quân đội chính phủ.

    Nguồn tin từ Hãng Reuters còn cho hay, ngoài đội chuyên gia của Anh, Pháp, Italia cũng đang chuẩn bị gửi tới Libya một nhóm đặc nhiệm với nhiệm vụ tương tự.

    Muftah Albargathi, người phụ trách tổ chức các khóa đào tạo quân sự của lực lượng chống đối cho hay, Đại tá Abdul Matloob Salah, từng 36 năm trong lực lượng quân đội Libya mới đây đã tham gia giảng dạy học viên và đưa ra nhiều kinh nghiệm trong khi chiến đấu với quân đội chính phủ. Muftah Albargathi khẳng định: "Chúng tôi muốn chuẩn bị tất cả nếu chiến sự còn tiếp diễn lâu dài".

    Trong khi đó, tờ Thời báo Los Angeles dẫn lời của Abdul Monem Muktar Mohammed, một thủ lĩnh của lực lượng chống đối cho hay, ngoài sự hỗ trợ của Anh, Pháp, Italia, lực lượng này còn nhận được sự giúp đỡ từ tàn quân Taliban ở Afghanistan và mạng lưới khủng bố Al-Qaeda.

    Chính Monem Muktar Mohammed đã nhờ cậy đến các thủ lĩnh Taliban để từ đó tạo mối liên hệ với Al-Qaeda. Điều này cũng hoàn toàn trùng hợp với những gì mà quân đội Mỹ cũng như chính phủ Libya cảnh báo trước đó, rằng, Al-Qaeda đang tham gia vào chiến sự ở Libya và khiến tình hình ở quốc gia này càng trở nên phức tạp

  2. #2
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    3


    Kỷ niệm 121 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2011), 100 năm ngày Người rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước (1911-2011), Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với Hội Xuất bản Việt Nam, dưới sự bảo trợ của Bộ Thông tin và Truyền thông đã cho ra mắt đông đảo bạn đọc cuốn sách "Hồ Chí Minh - Người mang lại ánh sáng". Sách do Nhà xuất bản Thời đại ấn hành.

    Cuốn sách tập hợp 61 bài viết của nhiều tác giả quốc tế và Việt Nam, cung cấp những tư liệu quý về cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Có thể thấy trong tập sách này sự góp mặt của các tác giả thuộc nhiều quốc tịch khác nhau như: Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc, Ba Lan, Hàn Quốc và Việt Nam.

    Ngay ở bài đầu tiên, cũng là tên tập sách, là bài viết của nhà báo Stanley Karnow đăng trên tạp chí Time. Stanley là cây bút đã từng đoạt giải Pulitzer và là một chuyên gia về Việt Nam, nổi tiếng với cuốn sách "Việt Nam: A history". Phải nói thêm, Time là một tạp chí uy tín của Mỹ, phát hành toàn thế giới, đã nhiều lần đưa hình ảnh chân dung Hồ Chí Minh và các sự kiện về Việt Nam lên trang nhất. Time đã bình chọn Hồ Chí Minh là một trong 100 nhân vật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như chính khách, khoa học, văn nghệ sĩ… có ảnh hưởng lớn nhất đến hành tinh của chúng ta trong thế kỷ XX.

    Tác giả Stanley viết: "Một thân hình gầy yếu với chòm râu nhỏ trong bộ đại cán cũ kỹ, và đôi dép cao su đã sờn, Hồ Chí Minh thể hiện hình tượng về một Bác Hồ khiêm tốn, hòa nhã. Nhưng ông là một nhà cách mạng dày dạn, nhà dân tộc nhiệt thành luôn theo đuổi một mục đích duy nhất: độc lập cho Tổ quốc mình… Đối với người Mỹ, đây là cuộc chiến tranh dài nhất và là lần thất bại đầu tiên trong lịch sử của họ. Nó còn làm thay đổi nghiêm trọng cách nhận thức về vai trò của họ trên thế giới".

    Có thể kể ra trong cuốn sách những bài viết thú vị của tác giả nước ngoài như: "Những cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh" của Franz Faber, "Hồ Chí Minh - Từ Cách mạng đến thần tượng của Pierre Brocheux, Hồ Chí Minh - Nhà cách mạng Đông Dương" của báo Nhân đạo Alain Ruscio, "Hồ Chí Minh và các giá trị phương Đông" của Georges Boudarel, "Những quan hệ đầu tiên giữa Hồ Chí Minh với Đảng Trung Hoa" của Qiang Zhai, "Kremli và Hồ Chí Minh" của I.B.Bukharkin, "Một nhà văn Nhật viết về Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ở Pháp" của Kiyosi Komatsu, "Kỷ niệm về Hồ Chí Minh" của Lise London… Mỗi người viết, từ nhận thức đánh giá và kỷ niệm riêng đã cho bạn đọc thấy rõ hơn tầm vóc quốc tế của Người và lòng kính trọng, khâm phục của bạn bè quốc tế, trong đó có cả những người không cùng chính kiến dành cho Người.

    Nhà nghiên cứu người Pháp gốc Việt Pierre Brocheux nhận định: "Ông (Bác Hồ - PV) đã bộc lộ những đức tính và thiên tài gắn bó với con người ông và được mọi người thừa nhận. Một đặc điểm tư tưởng của ông là không hề có óc giáo điều, từ chối xóa bỏ hết mọi cái của quá khứ văn hóa, sự lo toan xây dựng cây cầu nối giữa quá khứ và hiện tại và bằng cách chọn lọc trong quá khứ những cái mà ông có thể kích thích hiện tại...Tính hài hước, tính nhạy cảm và sự gần gũi của ông đã khiến cho nhiều người đã biết ông trong những năm 1920 ghi nhớ trong kỷ niệm khi họ nhắc lại. Đấy là những nét đã hấp dẫn những ai đã gần ông hay có tiếp xúc với ông trong cuộc sống hàng ngày.

    Nhà báo Đức F.Faber may mắn có nhiều dịp được đi với Bác Hồ về cơ sở đã kể lại: "Tôi đã có thể ngồi bên Người hàng giờ liền và được thấy rõ những đức tính tuyệt vời của Người, trên tư cách một vị lãnh đạo nhà nước và cũng trên tư cách một con người, mà ngay những kẻ chống đối tệ hại nhất cũng không thể hạ thấp Người được.

    Tác giả người Pháp Georges Boudarel nhắc lại một câu nói của Bác Hồ: "Trong đoàn thể của chúng ta có những người chỉ biết nói, nói hàng 2-3h đồng hồ, nói mênh mông trời đất. Nhưng chỉ chừa một điều không nói đến là, những việc thiết thực cho địa phương. Những người như vậy thì không thể dùng vào công việc cụ thể". Và Boudarel kết luận: "Chân dung đẹp nhất của Hồ Chí Minh là gì? Xét cho cùng đã có trong đạo đức kinh: Viên tướng giỏi không tỏ ra vũ dũng. Người giỏi tác chiến không tỏ ra hung hăng. Người khéo thắng địch không giao phong với địch. Người khéo chỉ huy thì tự đặt mình ở dưới người".

    Bác Hồ với đại biểu Quốc hội. Ảnh: Bùi Á.

    Riêng trong quan hệ của Người với các bậc cách mạng tiền bối của Việt Nam theo nhiều khuynh hướng khác nhau, dẫu có lúc bất đồng, nảy ra các cuộc tranh luận, nhưng trước sau Người đều thể hiện niềm kính trọng yêu nước, yêu dân của các vị. Và điều đặc biệt là, các bậc cao niên ấy về sau đều chung lời khen ngợi và gửi gắm niềm tin vào một bậc hậu sinh có thể gánh vác vận nước là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Có tư liệu về lời các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền nhắn nhủ mọi người: "Độc lập của nước Việt Nam sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc".

    Trong bức thư bằng chữ Hán gửi quốc dân, cụ Huỳnh đã viết: "Người thân yêu kính mến nhất của đồng bào quốc dân chúng ta là Hồ Chí Minh tiên sinh. Là bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia, chân đi khắp năm châu, mát trông xa vạn dặm, nhận rõ thời cuộc, lặng dò thời cơ... Là người nổi tiếng kiên cường, bất khuất và ngang ngạnh trước bạo lực và cường quyền". Cụ còn nói: "Ông Hồ không đồng xu dính túi. Nói về bằng cấp thì ông không tiến sĩ, phó bảng gì cả. Nhưng nói về tri thức và sự nghiệp cách mạng thì chắc chắn lớp chúng ta cũng như lớp trước chúng ta, không ai bì kịp. Sự hiểu biết của ông Hồ rất xa, rất rộng".

    Kể lại những câu chuyện về Người trong một cuốn sách quý, mỗi người Việt Nam sẽ có thêm niềm tự hào và động lực để tiếp tục sự nghiệp xây dựng đất nước. "Hồ Chí Minh - người mang lại ánh sáng" sẽ tiếp tục mang ánh sáng của Người soi rọi con đường của dân tộc hôm nay

  3. #3
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    2
    Cái giá mà loài người đương đại phải trả để có một nền kinh tế Mỹ siêu cường là quá nhiều máu đổ ở bên ngoài nước Mỹ, nhân tính ngày càng teo lại trước dục vọng vật chất và trước cả dư thừa vật chất, còn nỗi sợ hãi thì ngày càng phình to như những bóng ma trên bầu trời New York.

    Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Trân Châu Cảng rung chuyển, và nước Mỹ bàng hoàng. Lần đầu tiên kể từ sau kết thúc nội chiến năm 1865, người dân Mỹ thức dậy trong nỗi sợ hãi chiến tranh: không phải chiến tranh trong những bản tin hay trong những khái niệm, mà chiến tranh ở đây, trên chính đất nước được gây dựng bởi niềm tin được Chúa chở che và ban phước.

    Chính phủ của Tổng thống Roosevelt hiểu rằng: nước Mỹ không thể an toàn ở Tân Thế giới được nữa, Đại Tây Dương không ngăn được chiến tranh tràn đến những bờ biển đẹp đẽ yên bình của họ. Họ không thể cứ làm ra vũ khí để bán cho những cuộc chiến ở bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Đã đến lúc họ phải sử dụng những vũ khí đó cho sự an toàn của bản thân mình.

    Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Tổng thống Roosevelt tuyên bố chiến tranh. Nếu người Nhật không tấn công Trân Châu Cảng, không ai dám chắc việc người Mỹ có cùng quân đội đồng minh đổ bộ vào Normandie hay không, càng không ai dám đưa ra một kịch bản khác cho kết cục của Thế chiến.

    11 tháng 9 năm 2001, nước Mỹ lại một lần nữa sống trong nỗi sợ hãi bao trùm. Quân đội Mỹ hùng mạnh, chính phủ quyền lực nhất thế giới, uy danh của một siêu cường không bảo vệ được công dân của mình ngay trên lãnh thổ được cho là an toàn gần như tuyệt đối. Máu đã chảy dưới chân chính Nữ thần Tự do. Và cuộc sống vĩnh viễn không còn như trước nữa, đối với tất cả công dân Hoa Kì cũng như đối với tất cả những người yêu hoà bình trên toàn thế giới.

    Việc những bộ phim về chiến tranh, về thảm hoạ và ngày tận thế nở rộ trên các màn ảnh rộng cũng như trên các kênh truyền hình chính là tấm gương phản chiếu nỗi sợ hãi đang từng ngày gặm nhấm trong tiềm thức mỗi con người hiện đại. Chúng ta đang sống trong một thế giới bất ổn và đầy đe doạ.

    Trong suốt nhiệm kì của mình, chính quyền của Tổng thống Geogre Bush đã đeo đuổi việc phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa (National missile defense - NMD) tại Đông Âu, trên lãnh thổ Ba Lan và Cộng hoà Czech. Tháng 9 năm 2009, Tổng thống Obama tuyên bố điều chỉnh kế hoạch NMD tại châu Âu: chuyển hướng chiến lược sang Nam Âu và Thổ Nhĩ Kỳ.

    Tháng 2 năm 2011, chính quyền Obama trình Quốc hội đề nghị tăng ngân sách cho dự án NMD lên đến 8,626 tỷ đô la cho năm 2012. Ngày 3 tháng 5 năm 2011, Romania cho phép Mỹ triển khai NMD tại khu vực biên giới Romania và Bulgaria.

    Dường như đó là những bước đi được tính toán cẩn thận cho một mục đích: không chỉ để phòng thủ, quân đội Mỹ và hệ thống phòng thủ tên lửa Mỹ có khả năng tấn công bất kì mục tiêu nào nằm ngoài lãnh thổ mang biểu hiện đe dọa an ninh của Hợp chủng quốc. Nói một cách khác, nước Mỹ sẵn sàng gây chiến tranh ở quốc gia khác để tránh chiến tranh trên vùng đất được gắn mác tự do, bình đẳng và nhân đạo của mình.

    Tiến trình triển khai NMD được cộng đồng quốc tế dõi theo từng bước, tạo nên những phản ứng đa chiều. Các tổ chức khủng bố chống Mỹ điên cuồng gửi đi những lời đe doạ và cả những tiếng bom nhằm vào quân đội Mỹ và những chính quyền thân Mỹ.

    Còn với người dân Mỹ, dường như quyết tâm tăng cường sức mạnh quân sự của vị tổng thống da màu đã làm vơi đi phần nào nỗi sợ hãi ám ảnh họ suốt hơn thập kỉ qua: rằng cuộc sống bình yên và thịnh vượng của họ có thể mất bởi những khối căm thù đến từ bên ngoài nước Mỹ.

    Quả thực, mỗi người dân Mỹ sống với một niềm tin gần như tuyệt đối về ân điển của Chúa trời ban cho một phần ba châu lục quá đỗi giàu có này. Niềm tin ấy được thần thánh hoá từ những ngày lập quốc, được vẽ thành biểu tượng trên quốc ấn, được biến thành gần gũi với mỗi người dân Mỹ trên tờ tiền giấy mệnh giá một đô la.

    Câu chuyện về tham vọng bành trướng của nước Mỹ bắt đầu vào tháng 6 năm 1782, khi thư kí Hạ viện Charles Thomson đề xuất biểu tượng Kim Tự Tháp 13 bậc đang tiếp tục được xây cao hơn, bên trên là con mắt mang ánh hào quang thường được nhìn như mắt thần Horus, với hai dòng chữ La tinh ANNUIT COEPTIS (God approves of the undertakings) và NOVUS ORDO SECLORUM (A new order of the ages).

    Những dòng chữ này có thể được hiểu như Chúa ban ân điển cho những gì chúng ta (nước Mỹ) đã và đang làm để bắt đầu một trật tự mới của thời đại. Những chữ số La Mã dưới chân Kim Tự Tháp là 1776 - năm của Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, đánh dấu thời điểm bắt đầu của một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của nước Mỹ, của một đỉnh cao mới - một Kim Tự Tháp sẽ còn cao lên nữa, quy tụ toàn nhân loại.

    Bởi lẽ, sự trù phú của đất đai, sự giàu có của thiên nhiên đa dạng trên một lãnh thổ cực kì rộng lớn sẽ đem đến sự thịnh vượng tất yếu - nền tảng của sức mạnh quốc gia. Đó cũng là nền tảng cho sự trỗi dậy định mệnh - Manifest Destiny của Tân thế giới. Khi mà chỉ với 15 triệu đô la, đất đai của Hợp chủng quốc được mở rộng thêm hơn 2 triệu km2 vào tháng 4 năm 1803 sau cuộc mua bán với Napoléon Bonaparte, rồi những cuộc chiến ngắn ngủi với Nga và Mexico dẫn đến việc sát nhập Alasca, Texas, California…

    Tất cả như để chứng minh rằng Đấng toàn năng đã độ trì nước Mỹ. Và bởi thế, nước Mỹ được chọn để dẫn đường cho cả nhân loại, theo cách nói của Tổng thống thứ hai mươi tám Woodrow Wilson: Tôi tin rằng Chúa đã dẫn dắt từ thuở khai sinh của đất nước này, rằng chúng ta được chọn để chỉ đường cho các nước khác trên thế giới trong hành trình đi đến tự do. Hoa Kỳ là quốc gia lý tưởng duy nhất trên thế giới. Hoa Kỳ nhận được ân điển vĩnh hằng để thực hiện sứ mệnh cứu thế giới này. Chúng ta đến để cứu chuộc thế giới bằng tự do và công lý.

    Ít nhất thì các thế hệ người Mỹ của hai mươi ba thập kỉ qua đã thành thực tin vào điều đó. Niềm tin đó tuyệt đối, ngây thơ và nguyên thuỷ đến nỗi, khi những tấn thảm kịch xảy ra, rất ít người đặt câu hỏi vì sao nước Mỹ lại có thể bị căm thù và bị ghét bỏ đến thế? Chính phủ Mỹ, quân đội Mỹ đã làm điều gì để đến mức những người phụ nữ có con nhỏ, những thanh niên nhút nhát hiền lành, thậm chí những đứa trẻ được sinh ra ở quá xa nước Mỹ… sẵn sàng đánh bom tự sát để giết được người Mỹ?

    Tháng 2 năm 2003, thời điểm chính phủ Hoa Kỳ phát động cuộc chiến tại Iraq, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Dominique de Villepin - đại diện cho chính quyền của Tổng thống Jacques Chirac lên tiếng phản đối, kêu gọi gây dựng một diễn đàn cho hoà bình. Tiếng nói đó nhận được sự chia sẻ trong cộng đồng Pháp ngữ cùng những nước không thân Mỹ, tạo nên một đối trọng trong dư luận.

    Tổng thống Geogre Bush đã lên án ông Chirac là vô ơn (ingrate), ám chỉ nước Pháp đã quên cuộc đổ bộ vào Normandie của người Mỹ và những người lính khác đến từ bốn châu lục, giải phóng Paris và cả thế giới khỏi hoạ phát-xít. Trên các phương tiện truyền thông tuyên truyền cho chiến tranh, trên các thăm dò dư luận được công bố, đa số người dân Hoa Kỳ đã tin là người Pháp vô ơn.

    Câu chuyện Normandie quá tốt đẹp và bộ phim của đạo diễn tài năng Steven Spielberg "Giải cứu binh nhì Ryan" quá cảm động đã khiến cho rất nhiều người Mỹ hồn nhiên nhìn nhận cuộc chiến ở Iraq cũng được gắn lá cờ chính nghĩa là Tự do và Công lý như huyền thoại gần 60 năm trước.

    Trong niềm tin hồn nhiên ấy, như thể chính người Mỹ đã tiêu diệu phát-xít, mang lại hoà bình cho thế giới. Và gần đây nhất, sự ngây thơ của người Mỹ thể hiện ở uy tín lên cao của Tổng thống Obama sau chiến công tiêu diệu Osama Bin Laden - người Arab lẽ ra vô danh nếu không mang lòng hận thù cực đoan với nước Mỹ, và nếu không kiên quyết bảo vệ đến cùng đức tin bị tổn thương của dân tộc mình.

    Cứ như thể Bin Laden là kẻ thù định mệnh của nước Mỹ, và tiêu diệt được Bin Laden, nước Mỹ có thể ngủ yên, để an tâm thực hiện sứ mệnh xây dựng trật tự mới của thời đại - kỷ nguyên của nước Mỹ trên trái đất này.

    Nhưng nếu quả thực sứ mệnh mà Chúa trời trao cho nước Mỹ là mang lại những giá trị Tự do, Bình đẳng và một nền dân chủ thực sự cho toàn thế giới, thì tại sao ngay trên chính đất nước của mình, sau 4 năm nội chiến đẫm máu với khẩu hiệu giải phóng nô lệ đầy tính nhân văn của miền Bắc tư bản công nghiệp, luật Jim Crow phân biệt chủng tộc một cách cực đoan vẫn thống trị nước Mỹ gần một trăm năm, cho đến tận 1964?

    Tự do, Bình đẳng, Công lý vẫn là những ý niệm tốt đẹp nhưng xa vời, tồn tại trong một niềm tin đã bộc lộ sự mong manh của mình khi Julian Assange và WikiLeaks làm lúng túng cả một hệ thống chính trị hùng mạnh với rất nhiều đồng minh chỉ bằng những cuộc hội thoại, những bức điện chứa đựng không gì ngoài sự thật.

    Trong khi đó, CocaCola, hamburger, gà rán Kentucky, tiếng Anh-Mỹ, phim Holywood và American Idol đã làm thay đổi thói quen sinh hoạt của người dân toàn thế giới, tạo nên những lai căng văn hoá và những xung đột đức tin. Tự do và nhân quyền được sử dụng như một khẩu hiệu đẹp đẽ phủ lên những toan tính chính trị của một đất nước rộng lớn với những nhà tù như Guantanamo, nơi những người như cậu thanh niên 25 tuổi rụt rè Bradley Manning bị giam giữ và bị tra tấn mà không có bất kỳ phiên toà nào xét xử.

    Vẫn luôn lên tiếng cho nhân quyền ở ngoài biên giới Mỹ, vậy mà bà Clinton đã làm ngơ trước hàng trăm cuộc biểu tình trong và ngoài nước Mỹ đòi trả tự do cho người thanh niên mang tội không chấp nhận bạo lực và dối trá ấy.

    Thậm chí, đa số các chính trị gia Hợp chủng quốc đều cho rằng Brad Manning đã phạm tội phản bội khi để cho thế giới biết đến vụ thảm sát ngày 12 tháng 7 năm 2007 tại Baghdad, giết chết 18 dân thường trong đó có hai trẻ em, với thủ phạm là chiếc Apache của không lực Mỹ, với những tiếng cười vô tư của những người đến Iraq với lá cờ Tự do và Công lý khi xác nhận những xác chết nằm lại hiện trường.

    Có thể Brad Manning đã phản bội lại cả một hệ thống tuyên truyền cho chiến tranh, nhưng anh trung thành với sự thật và với đức tin của mình. Khó có thể tin được rằng những Mỹ Lai, Guantanamo, Iraq… tất cả những tội ác chiến tranh ấy là vì Công lý, hay vì giấc mơ về quyền được sống và được mưu cầu hạnh phúc của con người? Hay chăng, suy cho cùng, giấc mơ Mỹ, giá trị Mỹ cuối cùng chỉ để nhắm đến một thế giới thực sự phẳng và đồng nhất về những tiêu chuẩn tiêu dùng và hưởng thụ, để thị trường cho người khổng lồ kinh tế Mỹ trải dài không biên giới?

    Nếu là như vậy, thì cái giá mà loài người đương đại phải trả để có một nền kinh tế Mỹ siêu cường là quá nhiều máu đổ ở bên ngoài nước Mỹ, nhân tính ngày càng teo lại trước dục vọng vật chất và trước cả dư thừa vật chất, còn nỗi sợ hãi thì ngày càng phình to như những bóng ma trên bầu trời New York

  4. #4
    Ngày tham gia
    Jan 2016
    Bài viết
    9
    Một chiến dịch xâm lược được thực hiện bởi 2 đời Tổng thống Mỹ nhằm mục đích duy nhất là lật đổ chính quyền non trẻ của nhà cách mạng Cuba Fidel Castro cuối cùng đã biến thành thảm họa đối với những kẻ đã tạo ra nó. Nhân kỷ niệm 50 năm sự kiện lịch sử tại Vịnh Con heo, báo chí Cuba và quốc tế cho rằng toàn bộ cuộc xâm lược đều do người Mỹ làm.

    Kế hoạch do Phó tổng thống Richard Nixon đề xuất, Tổng thống Eisenhower phê chuẩn, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy ủng hộ từ bên trong Quốc hội, Tổng thống John F. Kennedy phát lệnh tấn công và giao toàn bộ cho CIA trực tiếp triển khai.

    Kế hoạch của Richard Nixon và Dwight Eisenhower

    Theo tài liệu lưu trữ trên trang History of Cuba, cuộc xâm lược tại Vịnh Con heo (tiếng Tây Ban Nha là Bahía de Cochinos) bắt nguồn từ nỗi ám ảnh chung của giới chính trị nước Mỹ thời Chiến tranh lạnh rằng "Cộng sản sẽ thay thế chủ nghĩa đế quốc thống trị thế giới". Một năm sau khi Cách mạng Cuba thành công (1/1/1959), Tổng thống Dwight D.Eisenhower bắt đầu trở mặt, làm cho quan hệ 2 nước xấu đi, liên tục có những hành động quấy phá Cuba.

    Bắt đầu từ tháng 1/1960, với việc máy bay của CIA xuất phát từ Florida thực hiện nhiều vụ ném bom napal xuống các cánh đồng mía - nguồn kinh tế chủ lực của Cuba thời bấy giờ. Còn ý tưởng về một cuộc xâm lược Cuba đã tượng hình trong suy nghĩ của Phó tổng thống Nixon từ tháng 4/1959, tức 3 tháng sau khi Cách mạng Cuba thành công và đã được Nixon chỉ đạo CIA triển khai thành một kế hoạch lật đổ chính quyền cách mạng ở Cuba. Kế hoạch hành động này do đích thân Giám đốc CIA Allen Dulles và Phó giám đốc phụ trách kế hoạch Richard Mervin Bissell, Jr. trực tiếp biên soạn.

    Tổng thống John Kennedy trong Chiến dịch Pluto.
    Kế hoạch bao gồm: Một là, tạo ra một lực lượng đối lập đoàn kết và có “trách nhiệm” chống lại Cách mạng Cuba, được dung dưỡng ở bên ngoài lãnh thổ Cuba; hai là, triển khai phương tiện thông tin đại chúng nhằm phục vụ mục đích tâm lý chiến, tuyên truyền chống phá Nhà nước Cuba; ba là, xây dựng và phát triển một đội ngũ tình báo bí mật bên trong Cuba, phối hợp chặt chẽ với thành phần Cuba lưu vong; và bốn là, xây dựng lực lượng bán quân sự bên ngoài Cuba phục vụ cho "chiến tranh du kích" sau này. Tất cả hành động này đều phải làm sao giấu thật kỹ "bàn tay" can thiệp của Mỹ.

    Ngày 17/3/1960, “Chiến dịch Pluto”, đã được Tổng thống Eisenhower phê chuẩn tại cuộc họp Hội đồng An ninh quốc gia (NSC). 9 tháng sau, ngày 3/1/1961, Eisenhower đã biểu lộ sự nôn nóng muốn tiến hành ngay kế hoạch xâm lược Cuba, bày tỏ một thái độ hung hãn chống lại Cách mạng Cuba và quyết định cắt quan hệ ngoại giao vĩnh viễn với Cuba.

    Bước chuẩn bị tiếp theo, Eisenhower duyệt chi ngân sách 4,4 triệu USD (theo thời giá lúc đó) chi phí cho việc triển khai kế hoạch, trong đó dành 950.000USD cho hoạt động chính trị, 1,7 triệu USD cho công tác tuyên truyền tâm lý chiến, 1,5 triệu USD tài trợ cho lực lượng bán quân sự và 250.000USD chi phí cho hoạt động tình báo. Một năm sau, khi tiến hành chiến dịch xâm lược, chi phí đã đội lên đến 46 triệu USD.

    Ngay sau khi lên nắm quyền, Tổng thống Kennedy đã tỏ ra rất "tâm huyết" với kế hoạch tấn công Cuba của Eisenhower. Điều này được thể hiện rõ trong Thông điệp liên bang đầu tiên mà Tổng thống Kennedy đọc trước công chúng Mỹ ngày 30/1/1961, trong đó Kennedy tuyên bố "không thể để cho Cộng sản thống trị Tây bán cầu". Theo các tài liệu về Vịnh Con heo, ngoài Tổng thống Kennedy, anh trai ông là Thượng nghị sĩ Robert Kennedy cũng là người ủng hộ rất nhiệt tình Chiến dịch Pluto.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Sep 2015
    Bài viết
    4
    Quyết định của Kennedy, CIA trực tiếp triển khai

    Từ tháng 4/1960, CIA đã bắt đầu tuyển mộ các phần tử Cuba lưu vong ở Miami, bang Florida và tiến hành công tác huấn luyện. Theo tài liệu lưu trữ, CIA đã chi trả lương huấn luyện cho các phần tử Cuba lưu vong 400USD/người/tháng, cộng thêm 175 USD/tháng để nuôi vợ con kèm theo.

    Từ tháng 4 đến 7/1960, việc tuyển chọn nhân sự và huấn luyện được tiến hành trên đảo Useppa và một số cơ sở tại Nam Florida, còn các bài huấn luyện chiến tranh du kích đặc biệt được huấn luyện tại 2 căn cứ của Mỹ ở Panama là Fort Gulick và Fort Clayton. Khi quân số tuyển mộ tăng lên, CIA bắt đầu tiến hành huấn luyện tác chiến trên bộ tại căn cứ CIA mang mật danh “JMTrax” ở gần Retalhuleu, vùng duyên hải Sierra Madre của Guatemala. Lực lượng Cuba lưu vong tham gia huấn luyện tự đặt tên cho đơn vị mình là Lữ đoàn 2506.

    Mùa hè 1960, một sân bay dã chiến (mật danh “JMMadd”, còn gọi là Căn cứ Rayo) đã được xây dựng gần Retalhuleu. Đơn vị Alabama ANG (Vệ binh Quốc gia đóng tại Alabama) được giao phụ trách huấn luyện kỹ thuật bắn súng và lái máy bay cho Lữ đoàn 2506. Theo tài liệu lưu trữ, hơn 30 máy bay chiến đấu loại B-26 đã được sử dụng cho công tác huấn luyện, sau đó 20 chiếc được cải tiến thành máy bay tấn công phục vụ Chiến dịch Pluto.

    Ngoài ra, một căn cứ khác là Garrapatenango ở Guatemala cũng được sử dụng để huấn luyện lực lượng bán quân sự, hỗ trợ tiền phương; còn công tác huấn luyện người nhái, sử dụng tàu thuyền đổ bộ tiến hành tại đảo Vieques, Puerto Rico. Ngày 9/4/1961, Lữ đoàn 2506 cùng toàn tàu chiến, xe tăng và máy bay từ Guatemala được chuyển đến mật cứ JMTide trong Thung lũng Hạnh phúc ở Puerto Cabezas, Nicaragua bằng máy bay Curtiss C-46.

    Trước khi tiến hành việc đổ bộ lên bãi biển Playa Giron (Vịnh Con heo), CIA đã thực hiện một số cuộc oanh tạc bằng máy bay xuống các doanh trại dân quân Cuba ở Bayamo (3/4/1961), Nhà máy đường Hershey ở Mantanzas (ngày 6/4/1961). Ngoài ra, một chuyến bay của Hàng không Cuba (Cubana Airliner) cũng bị cướp và điều đến Jacksonville, bang Florida.

    Theo kế hoạch ban đầu, việc đổ bộ sẽ diễn ra vào ban ngày, địa điểm là thành phố biển Trinidad, miền Tây Nam Cuba. Tuy nhiên, vì Tổng thống Kennedy sợ đổ bộ ban ngày sẽ làm lộ diện vai trò chủ mưu của Mỹ nên đã quyết định thay đổi kế hoạch đổ bộ vào ban đêm tại Vịnh Con heo, nơi được xem là thuận tiện hơn cho việc sử dụng máy bay tấn công trên bộ.

    Kennedy tính toán rằng, một khi đã làm chủ được khu vực Vịnh Con heo, bước đầu tiên là CIA dựng lên chính quyền kháng chiến lâm thời sẽ ngay lập tức được Mỹ công khai công nhận là "Chính phủ hợp pháp ở Cuba". "Chính phủ" này ngay sau đó sẽ chính thức yêu cầu Mỹ hỗ trợ về mặt quân sự và một cuộc can thiệp mới với quy mô toàn diện sẽ được bắt đầu.

    Các phần tử Cuba phản động thuộc Lữ đoàn 2506 bị bắt sau khi đổ bộ vào Playa Giron và Playa Larga trong Vịnh Con heo.

    Ngày 12/4/1961, tức 5 ngày trước khi Chiến dịch Pluto mở màn, Tổng thống Kennedy thêm một lần nữa cố tình tạo bức màn che đậy âm mưu đen tối của Mỹ khi phát biểu trên báo chí rằng "sẽ không có, dù trong bất cứ điều kiện nào, một sự can thiệp của lực lượng vũ trang Mỹ vào Cuba", rằng chính quyền Mỹ "có trách nhiệm bảo đảm rằng không người Mỹ nào có hành động can thiệp vào Cuba"... và "vấn đề cơ bản ở Cuba không phải giữa Mỹ với Cuba mà là giữa người Cuba với nhau"…

    Ngày 14/4/1961, Lữ đoàn 2506 đã rời căn cứ huấn luyện Puerto Cabezas ở Nicaragua để đến điểm tập kết ở Retalhuleu, Guatemala. Đến thời điểm này thì chính quyền cách mạng Cuba đã biết được kế hoạch tấn công của địch, chỉ có điều chưa nắm chính xác thời gian và địa điểm đổ bộ. Bởi vậy, khi phi đội máy bay B-26 đầu tiên của Mỹ bắt đầu ném bom đồng loạt các sân bay vào ngày Chủ nhật 15/4 thì Cuba đã chuẩn bị sẵn sàng đối phó, toàn bộ các máy bay, xe tăng chiến đấu đã được sơ tán, ngụy trang và cất giấu cẩn thận, chỉ có những chiếc hư hỏng, không còn khả năng sử dụng được để lại để tạo hiện trường giả nhằm thu hút hỏa lực của địch.

    Trong khi đó, CIA đã phái nhiều điệp viên bí mật xâm nhập Cuba để chuẩn bị cho việc hỗ trợ lực lượng đổ bộ và phá hoại những công trình công cộng bên trong Cuba.

    Nửa đêm 16/4/1961, Chiến dịch Pluto chính thức mở màn với một toán người nhái thâm nhập bãi biển Playa Giron và bật tín hiệu dẫn đường cho 6 tiểu đoàn gồm 1.500 phiến quân Cuba lưu vong đổ bộ vào 2 bãi biển Playa Giron và Playa Larga. Manuel Artime được chọn làm thủ lĩnh chính trị cho đội quân xâm lược.

    Tuy nhiên, "thiên bất dung gian", những rặng san hô có hình dạng sắc bén như dao mà máy bay do thám U2 chụp ảnh từ trên không trung khiến cho CIA tưởng nhầm là "rong biển", đã phá hỏng một số chiến thuyền đổ bộ, làm trì hoãn cuộc đổ bộ đủ lâu để cho kế hoạch xâm lược bị bại lộ. Trong khi đó, CIA và lực lượng đổ bộ cũng không hề biết rằng, 5 dân quân Cuba đã chờ sẵn ở Playa Giron để báo tin về cuộc xâm lược cho các chỉ huy quân đội cách mạng.

    3h sáng ngày 17/4, Chủ tịch Fidel Castro đã nắm rõ về cuộc đổ bộ trong đêm và ra lệnh phản công ngay lập tức. Chiếc chiến đấu cơ đầu tiên của Cuba cất cánh giáng đòn chí tử đánh chìm tàu chỉ huy mang tên Maroqa và tàu chở khí tài hạng nặng Houston khi chúng còn cách bờ biển 120km.

    Ngay sáng hôm sau cuộc đổ bộ, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Dean Rusk đã tổ chức một cuộc họp báo, tiếp tục lừa bịp dư luận rằng Mỹ "không can thiệp vào Cuba", rằng "những gì xảy ra ở Cuba là do người Cuba tự quyết định". Đại sứ Mỹ tại LHQ Adlai Stevenson còn thẳng thừng bác bỏ thông báo của phái đoàn Cuba về hành động xâm lược của Mỹ, bảo rằng đó là máy bay của… quân đội Cuba(?)

    Người Mỹ nham hiểm đến độ đã ngụy trang các máy bay B-26 cho giống hệt như máy bay của quân đội Cuba, sử dụng các phi công Cuba lưu vong đóng giả làm phi công Không quân Cuba rồi chụp hình để ngụy tạo rằng các máy bay đó là "của quân đội Cuba", là "phi công Cuba đào tẩu" nhằm che đậy hành động xâm lược của mình.

    Tuy nhiên, "gian mà không ngoan", máy bay của Cuba là do Liên Xô sản xuất thì giống thế nào được với loại B-26 của Mỹ? Vì vậy, chỉ sau vài giờ kiểm tra các bức ảnh do Đại sứ Stevenson trưng ra, Đại hội đồng LHQ không khó để nhận ra trò lừa bịp của Mỹ.
    [IMG][/IMG]

  6. #6
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    5
    Hết

    Bài học đắng cay

    Mọi chuyện đổ bể tại Đại hội đồng LHQ khiến Mỹ hết sức bẽ mặt. Đại sứ Mỹ đã rất tức giận và công khai yêu cầu Kennedy "ngưng ngay cuộc xâm lược" để tránh bị mất mặt thêm. 12h trưa ngày 17/4, Tổng thống Kennedy nhận được bức thư của Tổng Bí thư Liên Xô Nikita Khrushchev trong đó viết: "Chẳng có ai mà không biết đội quân xâm lược được người Mỹ huấn luyện, trang bị và vũ trang. Những chiếc máy bay đang thả bom ở các thành phố Cuba và những quả bom được thả xuống đều là của Mỹ". "…Vẫn còn chưa muộn để tránh đi quá đà…".

    21h ngày 17/4, McGeorge Bundy, trợ lý đặc biệt của Tổng thống Kennedy, đã điện thoại cho tướng chỉ huy CIA C.P. Cabell yêu cầu không triển khai đợt tấn công bãi biển Giron vào sáng hôm sau. Nhưng người Mỹ vẫn chưa chịu bỏ cuộc. Trong tình thế Lữ đoàn 2506 đang bị kẹt và rất cần cứu viện, các máy bay Mỹ lại tiếp tục "vớt cú chót" vào rạng sáng ngày 19/4 nhằm cứu vãn cục diện của quân xâm lược, nhưng mọi chuyện đã quá muộn. Các máy bay Mỹ đã không thoát được phòng tuyến phòng không hiện đại của Cuba.

    Kết quả của cuộc xâm lược Vịnh Con heo không gì tệ hơn: toàn bộ 1.500 quân Cuba lưu vong do Mỹ huấn luyện bài bản đã bị quân Cách mạng Cuba tiêu diệt gọn, trong đó hơn 200 tên bị giết, còn lại gần 1.200 tên bị bắt sống, mỗi tên sau đó bị tuyên án 30 năm tù, hầu hết được trả về Mỹ sau 20 năm thương lượng và chính quyền Mỹ chấp nhận bồi thường cho Cuba, ngoại trừ 3 tên bị giam 25 năm.

    Phía Mỹ, ngoài những thiệt hại về vật chất, khí tài quân sự còn có 4 phi công bỏ mạng sáng ngày 19/4. Sau khi vụ việc kết thúc, Giám đốc CIA Allen Dulles và các Phó giám đốc Charles P. Cabell và Richard Bissell đều bị cách chức. Nội bộ CIA trở nên xáo trộn nghiêm trọng do những báo cáo sai phạm từ vụ Vịnh Con heo.

    Bài học đau đớn nhất của Kennedy và bộ sậu chính quyền ở Washington chính là tư tưởng chủ quan, suy nghĩ viển vông phi thực tế của họ về tiềm lực và ý chí của quân dân Cuba. Chính nhờ tinh thần cảnh giác cách mạng mà Cuba do Chủ tịch Fidel Castro lãnh đạo đã không bị bất ngờ và đã có những bước phòng bị sẵn, kể cả việc tung gián điệp xâm nhập vào hàng ngũ huấn luyện ở Guatemala để nắm thông tin chi tiết từng hoạt động của chúng

  7. #7
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    1
    51 năm trước, ngày 1/5/1960, tại Liên Xô đã diễn ra một trong những sự kiện đáng chú ý nhất của Chiến tranh lạnh. Vào đúng thời điểm người dân lao động Xôviết đang rầm rộ diễu hành trên Quảng trường Đỏ chào mừng ngày Quốc tế lao động, một chiếc máy bay do thám siêu hiện đại U-2 của Mỹ vào thời đó đã bị bắn rơi trên bầu trời Sverdlovsk.

    Gary Powers, viên phi công Mỹ lái máy bay trên, đã bất ngờ trở thành một cái tên được nhắc tới thường xuyên. Nhiều chi tiết liên quan đến vụ việc trên cùng số phận của viên phi công này mới được làm rõ trong thời gian gần đây…

    U-2 – Kẻ thách thức lực lượng phòng không Xô Viết

    Loại máy bay U-2 là sản phẩm của kiến trúc sư hàng không Clarens Johnson, người đứng đầu ban thiết kế Skunk Works của Tập đoàn Lockheed. Tác dụng duy nhất của loại máy bay này là khả năng chụp ảnh từ trên cao. Theo yêu cầu kỹ thuật ban đầu, loại máy bay này phải tránh được nguy cơ tấn công của các máy bay tiêm kích và phương tiện phòng không Xôviết, trong khi tầm hoạt động đủ để bay ngang qua toàn bộ lãnh thổ Liên Xô từ Nam tới Bắc, trước khi hạ cánh an toàn tại một sân bay ở châu Âu hay châu Á. Ngoài ra, loại máy bay này được thiết kế chỉ cần có một phi công duy nhất điều khiển.

    Dù hợp đồng được ký kết vào tháng 12/1954, những chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của loại máy bay này đã được tổ chức vào tháng 7/1955. Ngày 4/7/1956, U-2 lần đầu tiên đã bay ngang qua bầu trời Liên Xô. Cất cánh từ Wiesbaden (Tây Đức), chiếc máy bay này đã vượt qua Balan, Belarus, lượn lờ trên bầu trời thành phố Leningrad, đi qua khu vực Baltic và quay trở về hạ cánh ngay tại căn cứ không quân trên. Những chuyến bay do thám trên nhanh chóng được tổ chức thường xuyên hơn.

    Ban đầu, radar của Liên Xô đều phát hiện ra kẻ xâm phạm nhưng không thể tiếp cận bắt buộc hạ cánh hay tiêu diệt, do nó bay ở độ cao rất lớn. Trong hồi ký của mình, Khrutsev kể lại, ông đã rất tức giận khi các máy bay tiêm kích Xôviết không thể áp sát chiếc U-2 trên, thậm chí còn coi đây là "sự xúc phạm về mặt tinh thần". Liên Xô khi đó chỉ còn cách duy nhất là gửi những công hàm phản đối qua đường ngoại giao.

    Giọt nước chính thức "tràn ly" vào tháng 4/1960, khi Bộ trưởng Ngoại giao Andrey Gromyko mang một công hàm phản đối tương tự lên trình tại Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. "Chuyện này chỉ khuyến khích thêm sự xấc láo của chúng. Cần phải bắn rơi những máy bay này!" - Khrutsev khi đó đã giận dữ tuyên bố.

    Phi vụ số 27 của Gary Powers


    Cho đến khi Francis Gary Powers cất cánh vào ngày 1/5/1960 trong một phi vụ tác chiến của mình, anh ta đã được xếp vào loại "phi công lão thành" trong chương trình do thám của Mỹ. Tính ra, viên phi công này đã có tổng cộng 27 phi vụ do thám trên bầu trời Liên Xô và các nước thuộc khối Đông Âu. Trong cái ngày định mệnh 1/5 đó, Powers cất cánh từ một căn cứ gần Peshawar, tạm dừng chân tại căn cứ Incirlik (Thổ Nhĩ Kỳ) và từ đây thẳng hướng tới khu vực Ural.

    Khrutsev biết được vụ đột nhập mới vào không phận Liên Xô ngay từ sáng sớm, khi Bộ trưởng Quốc phòng - nguyên soái Rodion Malinovski - gọi điện báo cáo trực tiếp cho ông. Người đứng đầu Chính phủ Liên Xô ngay lập tức chỉ thị phải bằng mọi giá bắn rơi chiếc máy bay bằng hệ thống tên lửa phòng không hiện đại nhất.

    Tổng thống Mỹ Eisenhower và nhà lãnh đạo Liên Xô Khrutsev.

    Vào đúng thời điểm Quảng trường Đỏ vừa kết thúc duyệt binh và bắt đầu cuộc tuần hành của đông đảo nhân dân lao động, Nguyên soái Biriuzov (Tư lệnh Phòng không) bước lên lễ đài thì thầm vào tai Khrutsev, báo cáo về việc chiếc U-2 đã bị bắn rơi, viên phi công vẫn còn sống và bị bắt làm tù binh. Những người có dịp chứng kiến gần đó kể lại, nhà lãnh đạo Liên Xô đã nở một nụ cười rất mãn nguyện.

    Còn theo người con trai của Powers kể lại, sau khi chiếc máy bay bất ngờ bị trúng tên lửa, viên phi công đã buộc phải nhảy dù từ độ cao 4,6km, mà không kịp nhấn nút tiêu hủy máy bay theo quy định từ trước. Về sau, chính Powers đã bị chính quyền Mỹ buộc tội vì sơ suất này.

    Mọi chuyện tiếp theo được tái hiện theo lời kể của công dân Petr Asabin tại ngôi làng Kosulino, người đầu tiên đã nhìn thấy viên phi công nhảy dù thẳng xuống mái nhà của ông. Ban đầu, Asabin đã cùng một người hàng xóm chạy tới, tìm cách giúp đỡ viên phi công mà không hề nghĩ đó là một người Mỹ. Thậm chí, ông còn giúp Powers dập lửa đang cháy từ chiếc dù.

    "Tôi cởi dù giúp cho anh ta, gỡ chiếc mũ phi công - Asabin kể lại - Trước câu hỏi chuyện gì đã xảy ra của chúng tôi, anh ta trả lời bằng tiếng nước ngoài và lắc đầu. Tôi quyết định bắt giữ anh ta. Nhìn thấy gần đó có một chiếc ôtô, tôi và người hàng xóm Cheremisin giữ tay anh ta dẫn tới đó. Khi gần tới chiếc xe, tôi phát hiện trong người anh ta có một con dao nhỏ và tịch thu luôn, trước đó Cheremisin cũng giữ một khẩu súng lục nòng dài.

    Vì muốn biết anh ta nhảy dù một mình hay không, tôi giơ một ngón tay và sau đó là ngón thứ hai. Anh ta giơ một ngón và chỉ vào chính mình. Chúng tôi đưa anh ta lên xe và chở tới Xôviết làng… Trên xe, anh ta làm cử chỉ cho thấy muốn uống nước. Chúng tôi phải dừng xe lại giữa làng cho anh ta uống nước. Chúng tôi đưa viên phi công tới Xôviết làng, nơi có các nhân viên Cơ quan An ninh quốc gia từ Sverdlovsk chờ sẵn". Cũng theo lời Asabin, Powers hành xử một cách bình tĩnh, không thể hiện bất cứ thái độ chống đối nào dù là nhỏ nhất.

    Chính con trai của Powers sau này cho biết, cha anh ta không hề chịu bất cứ đòn tra tấn nào như báo chí phương Tây vẫn rêu rao. Powers trong quá trình 30 ngày trả lời thẩm vấn đã thừa nhận anh ta làm việc cho CIA, thu thập thông tin tình báo qua những hình ảnh chụp từ trên máy bay. Trong 7 ngày đầu tiên, Powers tìm mọi cách che giấu càng nhiều càng tốt những thông tin về bản thân, cũng như về chiến dịch do thám của Mỹ.

    Mọi chuyện đã thay đổi đáng kể vào ngày 7/5, khi cả thế giới phải xôn xao trước tuyên bố chính thức của Khrutsev về việc bắn rơi máy bay U-2 và bắt sống phi công Mỹ. Ngay lập tức, tất cả những tờ báo lớn nhất thế giới đều đăng tải sự kiện này, những bình luận về các hậu quả chính trị, cả những thông tin điều tra liên quan đến Powers.

    Cũng từ một bài báo trên tờ The New York Times, các điều tra viên Xôviết mới biết Powers từng được đào tạo tại Căn cứ 51 ở bang Nevada (chính là nơi thử nghiệm bí mật loại máy bay U-2), trong khi viên phi công này lại khai được đào tạo tại Arizona. Từ thời điểm này, để tránh nguy cơ phải nhận bản án nghiêm khắc vì tội không thành khẩn, Powers đã phải khai báo nhiều hơn.

  8. #8
    Ngày tham gia
    Nov 2015
    Bài viết
    0
    Thắng lợi của điện Kremli

    Washington ban đầu chỉ biết được Powers đã không thấy quay trở về, và mọi giả thuyết chỉ là đoán mò. Ngày 4/5, CIA đưa ra thông tin thăm dò đầu tiên: Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) thông báo: vào ngày 1/5 tại khu vực hồ Van (Thổ Nhĩ Kỳ), họ vừa bị mất tích một chiếc máy bay chuyên nghiên cứu các hiện tượng khí quyển trên độ cao lớn. Trước khi mất liên lạc, viên phi công thông báo về sự trục trặc trong hệ thống cung cấp oxy. Chiếc máy bay, theo như NASA, chỉ đơn thuần thực hiện một sứ mạng dân sự.

    Moskva chỉ chờ có vậy. Ngay hôm sau, Khrutsev thông báo trong phiên họp của Xôviết tối cao về việc, tên lửa của Liên Xô đã bắn rơi một máy bay do thám của Mỹ trên bầu trời khu vực Ural. Washington khi đó cho rằng viên phi công đã thiệt mạng, nên chỉ đưa ra lời giải thích, chiếc máy bay có thể đã bị lạc hướng.

    Gary Power trong phiên tòa xét xử.

    "Khi người Mỹ cứ làm ra vẻ không biết gì, chúng tôi quyết định đưa ra một thông báo công khai đầy đủ hơn nhằm vạch trần sự giả dối của họ - Khrutsev về sau kể lại trong hồi ký - Tôi được giao phó việc tuyên bố trong phiên họp của Xôviết tối cao về tiến trình điều tra vụ việc, về sân bay mà những máy bay kiểu trên đang ẩn náu, về thời gian và sân bay mà chiếc máy bay bị bắn rơi đã tới Pakistan, hành trình qua lãnh thổ của chúng tôi, về nhiệm vụ của viên phi công do thám trên bầu trời Liên Xô trước khi dự định hạ cánh xuống một sân bay nào đó tại Na Uy". Tất cả những thông tin trên đã thu được từ những cuộc thẩm vấn Powers tại Lubianka (trụ sở KGB).

    Giới chức ngoại giao Mỹ khi đó chẳng có chút cơ hội nào để tìm hiểu rõ tình hình. Nhà Trắng liên tục gọi điện cho Đại sứ quán Mỹ tại Moskva nhằm tìm hiểu điều gì đã xảy ra. Âm mưu xin tiếp cận với viên phi công lại bị từ chối thẳng thừng. Tổng thống Eisenhower và Giám đốc CIA Allen Dulles đã gặp gỡ trực tiếp để bàn cách giải quyết. Dulles còn dự định làm kẻ "giơ đầu chịu báng", sẵn sàng từ chức để khỏi làm ảnh hưởng tới Tổng thống. Tuy nhiên, Eisenhower cuối cùng đã quyết định sẽ đứng ra nhận lấy hoàn toàn trách nhiệm, do chính ông ta là người trực tiếp phê chuẩn chiến dịch do thám trên.

    Ông chủ Nhà Trắng giải thích rằng, những phi vụ do thám trên "có ý nghĩa sống còn" để có thể ngăn chặn một vụ Trân Châu Cảng mới trong tương lai. Eisenhower muốn biết sức mạnh quân sự thực tế cùng những điểm yếu của Liên Xô để có thể sẵn sàng phản ứng trước bất kỳ đòn đánh bất ngờ nào. Hậu quả của vụ này đã quá rõ ràng: Eisenhower được coi là kẻ đã dối gạt nhân dân Mỹ và cả thế giới, còn Khrutsev đạt được một thắng lợi mang tính tuyên truyền rất quan trọng.

    Số phận của kẻ đã “đi vào lịch sử”

    Phiên tòa xét xử Gary Powers diễn ra từ ngày 17 đến 19/8/1960 đã trở thành sự kiện quan trọng thu hút sự quan tâm của cả thế giới. Viên phi công Mỹ phải nhận bản án 10 năm tù, trong đó có 3 năm đầu tiên phải bị giam giữ hết sức nghiêm ngặt. Powers được đưa tới nhà tù Vladimirka, là nơi giam giữ những tội phạm đặc biệt nguy hiểm. Anh ta có thời gian đã lâm vào tình trạng tuyệt vọng vì cho rằng, Chính phủ Mỹ đã quên lãng không tìm cách giải cứu cho mình.

    Ý tưởng trao đổi Powers với Đại tá Rudolf Abel - điệp viên nổi tiếng của Liên Xô tại New York bị bắt giữ vào năm 1957 và bị kết án 30 năm tù - bắt đầu nảy sinh đầu tiên từ cha của Powers. Ban đầu, ông này viết thư liên lạc với Abel để đạt được những thỏa thuận ban đầu, trước khi chính thức đưa ra đề nghị với các cơ quan nhà nước. Những cuộc đàm phán qua các kênh bí mật đã diễn ra nhanh chóng dưới sự điều hành của CIA, cho dù cả Liên Xô và Mỹ chưa hề có kinh nghiệm về những cuộc trao đổi này.

    Ngày 10/2/1962, cuộc trao đổi lịch sử đã diễn ra tại cây cầu Glienicke bắc qua sông Havel (nối Berlin với Potsdam). Phía Mỹ bàn giao Rudolf Abel cho các đại diện của Liên Xô để đổi lấy Gary Powers và một sinh viên Mỹ có tên Frederic Prior (bị Cảnh sát CHDC Đức bắt trước đó). Nhưng câu chuyện về viên phi công - tù binh này vẫn chưa kết thúc. Anh ta phải đứng trước một thử thách mới tại quê nhà - đó là phải tự mình bào chữa trước công luận Mỹ.

    Khi quay trở về, Powers đã phải choáng váng sau khi đọc những bài báo khẳng định anh ta đã cố tình đào ngũ, rằng anh ta đã cố tình nhảy dù khi máy bay vẫn chưa bị tổn hại đáng kể, không tuân lệnh cấp trên phải tự sát trong trường hợp tương tự, hay "ton hót" tất cả những gì biết được cho người Nga. Powers đã phải đưa ra những lời khai tỉ mỉ nhất tại CIA, trước khi ra tường trình trước Ủy ban Thượng viện về lực lượng vũ trang vào tháng 3/1962. Cuối cùng, Powers cũng được phục hồi danh dự, khi ủy ban trên đánh giá anh ta "đã hành động tuyệt vời trong những điều kiện nguy hiểm như vậy".

    Dấu kết cuối cùng của câu chuyện được đưa ra nhân dịp kỷ niệm 40 năm sự kiện trên, khi Power được thưởng Huân chương "Tù binh quân sự", Huân chương Chữ thập "Vì thành tích bay xuất sắc" và huy chương của Giám đốc CIA khi đó là George Tenet "Vì sự trung thành và lòng dũng cảm khi thực hiện nhiệm vụ".

    Có điều tất cả những phần thưởng trên chỉ được… truy tặng cho Gary Powers. Trước đó, vào ngày 1/8/1977, viên phi công này đã thiệt mạng trong một chiến dịch chữa cháy rừng tại California. Trên đường quay trở về, chiếc trực thăng của anh ta bị hết nhiên liệu và rơi cách sân bay gần nhất có vài dặm. Powers (khi đó mới có 48 tuổi) được chôn cất tại nghĩa trang quân sự quốc gia Arlington

  9. #9
    Ngày tham gia
    Aug 2015
    Bài viết
    4
    Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: "Ai đến trước, bầu trước; Bác đến sau, Bác chờ". Sau đó, Người đã gương mẫu chờ đến lượt mình mới lấy lá phiếu và bầu cử. Nghĩa vụ là vậy, còn về "quyền" Bác cũng kiên quyết thực hiện đúng quyền của mình. Bác yêu cầu đưa lý lịch những người ứng cử để Người cân nhắc lựa chọn.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là đại biểu ưu tú, là linh hồn của Quốc hội nước ta. Những đóng góp của Người cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, trong công tác bầu cử nói riêng đã trở thành di sản vô giá.

    Ngọn cờ độc lập tự do của Hồ Chí Minh khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã được thể chế hoá bằng cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, là mục tiêu đấu tranh, là động lực của toàn dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong hoàn cảnh chính quyền non trẻ gặp muôn vàn khó khăn, cùng một lúc phải chống lại thù trong giặc ngoài và giặc đói giặc dốt, Bác Hồ vẫn đề nghị Chính phủ lâm thời tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu.

    Tại cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên (Quốc hội khoá I) năm 1946,Thủ đô Hà Nội là nơi Bác Hồ ra ứng cử. Gần đến ngày bầu cử, có 118 vị là Chủ tịch Ủy ban Hành chính đã công bố một bản đề nghị "Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi ủng hộ và suy tôn vĩnh viễn Cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà". Đây cũng là nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta. Mặc dù vậy, Bác Hồ đã viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị đồng bào cho Người thực hiện quyền và nghĩa vụ của người công dân. Bức thư có đoạn viết: "Tôi là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nên tôi không thể vượt qua thể lệ của cuộc Tổng tuyển cử đã định".



    Ngày 8/5/1960, nhân dân và thanh thiếu niên Thủ đô Hà Nội chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bỏ phiếu bầu Quốc hội Khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại phòng bỏ phiếu số 1, tại số nhà 67 phố Cửa Bắc, khu phố Ba Đình - Hà Nội. Ảnh: Mai Nam.

    Trước ngày Tổng tuyển cử một hôm, tại khu Việt Nam học xá (Nay là khu vực Trường Đại học Bách Khoa, Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dự mít tinh của hơn hai vạn đồng bào Hà Nội ủng hộ cuộc bầu cử Quốc hội. Tại cuộc mít tinh, Người nói: " Làm việc bây giờ là hy sinh, là phấn đấu quên lợi ích riêng mà nghĩ lợi ích chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu".

    Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I, Người đã trúng cử với số phiếu rất cao. Khi kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá I tín nhiệm bầu vào vị trí Chủ tịch Chính phủ kháng chiến, Người phát biểu: "Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác, thì tôi phải gắng làm, cũng như mọi người lính vâng lệnh Quốc dân ra trước mặt trận".

    14 năm sau, sáng 15/4/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu tại phiên bế mạc kỳ họp thứ 12 Quốc hội khoá I. Sau khi nêu lên: "Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam châu Á, cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do".

    Là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Quốc hội khoá I đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ cộng hòa. Do điều kiện đất nước bị chia cắt, nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khoá I kéo dài từ tháng 1/1946 đến tháng 5/1960. Thông qua 12 kỳ họp, đặc biệt là hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội, luôn có mặt bên cạnh Chính phủ để chỉ đạo công tác kháng chiến - kiến quốc; xây dựng Hiến pháp, Luật Cải cách ruộng đất; đàm phán, ký kết và đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ ne vơ; khôi phục kinh tế miền Bắc. Quốc hội khóa I đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy, giải phóng và đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, chi viện cho công cuộc giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những cống hiến của Quốc hội khoá I suốt 14 năm và khẳng định: "Quốc hội ta đã hết lòng vì dân, vì nước, đã làm tròn một cách vẻ vang nghĩa vụ của người đại biểu của dân". Người cảm ơn Quốc hội khóa I và tin chắc rằng Quốc hội khóa II của chúng ta sẽ đưa hết tinh thần và lực lượng để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

    Cùng năm 1960 ấy, ngày 24/4, phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri Thủ đô, sau khi cảm ơn đồng bào đã nhất trí yêu cầu Người và các vị khác ra ứng cử vào Quốc hội khoá II, Người đã nêu lên tính chất dân chủ của Luật Bầu cử, giá trị cao quý của lá phiếu cử tri và tin tưởng rằng những cử tri sáng suốt sẽ bầu ra được một Quốc hội có những đại biểu thật xứng đáng. Người thay mặt các ứng cử viên hứa với đồng bào: " Những người được cử vào Quốc hội khoá II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đầy tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội.

    Sự tôn trọng, dân chủ, nghiêm túc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc làm rất nhỏ của công tác bầu cử. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác Hồ, sau này là Cục trưởng cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ - Bộ Công an) kể lại: Chiều 27/4/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử HĐND cấp huyện và xã. Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, Tiểu khu 1, Khu phố Ba Đình, Hà Nội đặt tại Nhà thuyền (Hồ Tây).

    Khi Bác đến, tổ bầu cử có ý cho mọi người dừng lại để Bác bầu cử trước. Thấy vậy, Người nói thẳng thắn: "Ai đến trước, bầu trước; Bác đến sau, Bác chờ". Sau đó, Người đã gương mẫu chờ đến lượt mình mới lấy lá phiếu và bầu cử. Nghĩa vụ là vậy, còn về "quyền" Bác cũng kiên quyết thực hiện đúng quyền của mình. Bác yêu cầu đưa lý lịch những người ứng cử để Người cân nhắc lựa chọn. Một nhà báo định chụp ảnh Bác đang bầu cử, Người đã lấy tay che lá phiếu và ngăn lại: "Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải tôn trọng cử tri. Phải tôn trọng tự do và bí mật của công dân!".

    Sau khi bỏ phiếu xong, ra về đến Phủ Chủ tịch, Bác xuống xe quay sang hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng:

    - Chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị nhân dân khinh ghét không?

    Năm 1945, mỗi lần Nguyễn Hải Thần đi đâu bọn lính bảo vệ ông ta ngồi trên xe tay lăm lăm súng lưỡi lê tuốt trần và còn đặt khẩu đại liên diễu võ giương oai, trông rất lố lăng. Nghe Bác hỏi đồng chí Hoàng Hữu Kháng chột dạ và cảm thấy cuộc bảo vệ hôm đó có điều gì sơ suất khiến Bác không hài lòng. Sau này đồng chí bảo vệ tiếp cận ngồi cùng xe Bác nói lại, khi Bác đến nơi bỏ phiếu, nhìn thấy vắng cử tri, Bác không vui. Bác muốn như mọi người dân bình đẳng khi đi thực hiện quyền làm chủ của mình.

    Ôn lại những câu chuyện về Bác, chúng ta càng thấy rõ hơn tâm huyết và tầm nhìn xa trông rộng của Bác; Người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho một xã hội bình đẳng, dân chủ và dày công vun đắp, xây dựng một Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân

  10. #10
    Ngày tham gia
    Dec 2015
    Bài viết
    6
    Vào ngày 16 tháng 8 năm 1951, một thị trấn thuộc vùng đông nam nước Pháp đã chứng kiến sự bùng phát của “dịch” ảo giác cuồng loạn, khiến 5 người chết và hàng chục người khác đã bị đưa đến các trại tâm thần.
    Khi đó, nhiều nhà khoa học của Pháp đã vào cuộc và đưa ra kết luận, những nạn nhân này đã ăn phải bánh mỳ nhiễm độc tại một cơ sở sản xuất trong vùng.


    Tuy nhiên, sau gần 60 năm, vào năm 2009, giả thuyết này đã bị bác bỏ khi một nhà báo điều tra Mỹ, Hank Albarelli đã tiết lộ một bí mật kinh hoàng: “Chính CIA đã bỏ thuốc điên LDS vào bánh mỳ để thử nghiệm trên người”

    "Sự kiện bánh mỳ tàn ác"

    Thị trấn Pont-Saint-Esprit, miền nam nước Pháp sẽ luôn yên bình nếu như không có tai họa giáng xuống đầu hơn 300 người dân hiền lành nơi đây vào ngày 16 tháng 8 năm 1951. Sau khi bình minh ló dạng để đón chào một ngày mới, hầu hết người dân tại thị trấn nhỏ xinh xắn này bỗng bùng phát chứng điện loạn tập thể. “Sau khi ngủ dậy, tôi cảm thấy đau đầu và bắt đầu nôn mửa không ngừng. Thật kinh khủng. Tôi có cảm giác như co rút người lại. Và lửa cháy cùng rắn cuộn quanh cánh tay tôi”- người đưa thư Leon Armunier, một nạn nhân tại thời điểm đó đã cho biết.


    Thị trấn Pont-Saint-Esprit- nơi xảy ra vụ điên loạn tập thể vào năm 1951

    Không chỉ có Leon Armunier, vào ngày chủ nhật kinh hoàng đó, thị trấn Pont-Saint-Esprit bỗng nhiên trở thành một nhà thương điên tập thể. “Một người hét điên loạn và nói rằng có một con rắn đang gậm nhấm ruột gan của ông ta, và rồi người đàn ông bất hạnh đó đã nhảy xuống sông chết chìm. Một cậu bé 11 tuổi đã dùng tay để bóp cổ bà ngoại của mình vì cho rằng đó là quỷ dữ hiện hình. Một người hàng xóm trèo lên nóc nhà và hét lên rằng anh ta chính là máy bay và phi thân từ trên cao xuống đất. Những người khác thì cố nhảy qua cửa sổ. Họ trở nên hoang dại… gào thét, và âm thanh của chiếc giường sắt cùng tiếng nhảy thình thịch lên xuống…âm thanh thật khủng khiếp”- ông Leon Armunier nhớ lại.

    Sự kiện dân vùng Pont-Saint-Esprit bỗng dưng phát chứng điên loạn tập thể đã làm trấn động cả thế giới ở thời điểm đó. Tạp chí “Thời đại” của Mỹ khi đó đã viết rằng: “Dân chúng tại vùng Pont-Saint-Esprit tự dưng phát điên. Rất nhiều người sau khi bị trói tay trói chân để đưa tới các bệnh viện tâm thần trong vùng vẫn cố vùng vẫy để đập đầu vào tường. Có người cho rằng gan phổi của họ đã bị lôi ra ngoài và cầu xin bác sỹ ‘nhét’ lại chúng vào trong. Vào ngày 16/8/1951, chứng điên loạn này bắt đầu hoành hành và trong những ngày tiếp theo, hàng chục người trong thị trấn có triệu chứng tương tự. Kết quả là 5 người đã chết vì tự vẫn và rất nhiều người khác đã phải đưa vào viện tâm thần”.

    Cảnh sát địa phương và các nhà khoa học sau đó cũng đã bắt tay ngay vào việc điều tra nguyên nhân bùng phát chứng điên loạn tập thể tại vùng Pont-Saint-Esprit. Sau một thời gian tiến hành thu thập dữ liệu, cảnh sát vùng này đã đưa ra kết luận: Người dân trong vùng Pont-Saint-Esprit đã ăn phải bánh mỳ nhiễm độc từ một cơ sở sản xuất bánh mỳ có tên Roch Briand trong vùng. Bánh mỳ của cơ sở này trong quá trình sản xuất không may bị nhiễm cựa, một loại nấm độc mọc tự nhiên trên lúa mạch đen. Vì thế vụ việc này còn được người dân thị trấn Pont-Saint-Esprit gọi với cái tên : “Sự kiện bánh mỳ tàn ác”.

    Tiết lộ kinh hoàng


    Nhà báo Hank Albarelli

    Mọi việc của người dân thị trấn Pont-Saint-Esprit sẽ trôi vào dĩ vãng nếu như không có tiết lộ gây sốc mới đây của nhà báo điều tra Mỹ, Hank Albarelli. Vào năm 2009, nhà báo này đã tiết lộ một tập tài liệu của CIA có tựa đề: “Hồ sơ Pont-Saint-Esprit và F.Olson”. Theo nhà báo Hank Albarelli cho biết, F. Olson chính là Frank Olson, một nhà khoa học của CIA tại thời điểm xay ra vụ việc ở Pont-Saint-Esprit và là trưởng nhóm nghiên cứu thuốc LSD cho CIA. Albarelli tin rằng “Hồ sơ Pont-Saint-Esprit và F.Olson” nếu chưa bị “chôn vùi” có thể chứng tỏ CIA đã thử nghiệm thuốc LSD đối với những người trong thị trấn nhỏ bé đó của Pháp. Albarelli cho rằng thuốc LSD có thể bị cho vào bánh mỳ của tiệm bánh Roch Briand trong thị trấn.

    LSD là một loại thuốc ảo giác của nhà khoa học lừng danh Albert Hofmann nghiên cứu và sáng chế. Vào những năm 60 của thế kỷ trước, loại thuốc tăng cường thần kinh LSD đã được nhiều thanh niên các nước Âu Mỹ coi là: “Biệt dược thần kinh”. Nhiều người sau khi sử dụng LSD, thần kinh trở nên hưng phấn tột độ và đã nhảy lầu tự tử, thậm chí có những người không tự chủ được hành vi, cầm súng hoặc dao giết cả người thân….Một số thanh niên tại các quốc gia tiên tiến, đặc biệt thế hệ hippi của thập niên 60 đã sử dụng LSD như một loại ma túy mới có tác dụng kích thích thần kinh mạnh mẽ. Chính vì những hậu quả đau lòng này mà LSD được mệnh danh là “thuốc điên” và việc phát minh ra chất này cũng bị phỉ báng là “Phát minh ác độc”.

    Tuy nhiên, trước khi trở thành một “biệt dược thần kinh” và được sử dụng rộng rãi vào những năm 60 tại Âu Mỹ thì loại thuốc này vẫn luôn nằm trong “vòng bí mật để tiến hành thí nghiệm trên người”. Chính vì thế vụ việc CIA đã “dùng” gần 300 người dân vô tội tại thị trấn Pont-Saint-Esprit làm “chuột bạch” đã khiến cả thế giới phải bàng hoàng và phẫn nộ.

    Trong những tiết lộ của nhà báo Albarelli, ông đã tìm thấy một báo cáo “tuyệt mật” của giám đốc nghiên cứu Edgewood Arsenal- nơi nhiều cuộc thử nghiệm của chính phủ Mỹ về LSD được thực hiện vào năm 1949. Trong báo cáo quan trọng này, nội dung chủ yếu là “Phải làm mọi cách có thể để tiến hành ‘thử nghiệm thực địa’ đối với loại thuốc LSD”. Và sở dĩ thị trấn Pont-Saint-Esprit được “chọn mặt gửi vàng” là ở thời điểm những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, chỉ có công ty hóa chất Sandoz đóng tại thị trấn Pont-Saint-Esprit là nơi duy nhất tiến hành sản xuất thử nghiệm loại thuốc điên này.

    Cũng nằm trong hồ sơ của Albarelli tiết lộ vào năm 2009, nhà báo này còn thu thập được những chứng cứ quan trọng khác chứng minh CIA đã biến người dân thị trấn Pont-Saint-Esprit thành “chuột bạch” để thử nghiệm thuốc LSD. Một trong những chứng cứ này nằm ở hồ sơ báo cáo của một điệp viên CIA từ năm 1954. Điệp viên này đã ghi lại cuộc đối thoại của mình với một đại diện của công ty hóa chất Sandoz ở Thụy Sỹ. Trong cuôc đối thoại, đại diện của công ty Sandoz đã buột miệng thú nhận rằng: “Nguyên nhân chính không phải nằm ở bánh mỳ nhiễm độc, cũng không phải do nhiễm nấm hạt cựa…”

    5700 lính Mỹ cũng trở thành nạn nhân

    Không chỉ có nhà báo Albarelli tham gia vào việc truy tìm nguyên nhân thực sự của “Sự kiện bánh mỳ tàn ác” tại thị trấn Pon-Saint-Esprit vào năm 1951, đồng hành với ông còn có sự xuất hiện của hai đồng nghiệp khác. Mặc dù khác nhau về phương pháp điều tra, nhưng cả 3 cùng đưa ra kết luận rằng: “Sự kiện bánh mỳ tàn ác” năm 1951 là do Cục tình báo Mỹ CIA và lực lượng lục quân của Mỹ thực hiện.


    Trụ sở hiện tại của CIA

    Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên mà Mỹ phát động vào năm 1950, việc các nhà khoa học nước này đã tiến hành thử nghiệm thuốc LSD trên người đã “rõ như lòng bàn tay”. Vì thế việc thị trấn Pon-Saint-Esprit “bỗng dưng phát điên” cũng chỉ nằm trong một phần kế hoạch thử nghiệm thuốc LSD “một cách rộng rãi” của Mỹ. Cũng theo những kết luận điều tra này, Mỹ đã đưa ra 2 biện pháp để tiến hành thử nghiệm “thuốc điên”. Một là đưa LSD phát tán trong không khí, hai là đưa vào bánh mỳ của người dân. Sau nhiều lần đắn đo suy tính thì phương án thứ hai đã được thực hiện.

    Cũng theo Albarelli, chứng cứ quan trọng nhất mà ông thu thập được chứng minh kết luận trên của mình chính xác đến từ một tập tài liệu của Nhà Trắng vào năm 1975. Đây là tập tài liệu mà Nhà Trắng đã gửi đến các thành viên của Quỹ Rockefeller với nội dung chính là đưa ra kết quả điều tra về sự “ngược đãi” của CIA liên quan tới việc lạm dụng quyền lực.

    Trong tài liệu này còn ghi rõ họ và tên của một số người Pháp- những người đã được CIA thuê thực hiện việc đưa thuốc điên LSD vào bánh mỳ của người dân thị trấn Pon-Saint-Esprit. Trong tài liệu này còn ghi rõ, từ năm 1953 đến 1965- Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) đã thực hiện kế hoạch “ Thử nghiệm vũ khí tấn công mới bằng thuốc ảo giác” tới những vùng ngoại ô ngoài nước. Không những thế, kế hoạch này còn áp dụng cho cả 5700 lính Mỹ- những người thuộc đủ thành phần, màu da và tộc người khác nhau.

    Trước sự việc gây sốc này, nhà báo Albarelli chưa có đủ bằng chứng chứng minh sự đóng góp tích cực của chính phủ Pháp đối với “công trình nghiên cứu” mang tầm chiến lược trên của CIA. Mặc dù sau khi có thông tin chính phủ Pháp ủng hộ CIA thực hiện kế hoạch “thử nghiệm thuốc ảo giác LSD trên người”, người phát ngôn của chính phủ nước này đã chính thức lên tiếng phản đối và cho rằng :”Đó là thông tin sai lệch và vu khống”. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, cả CIA và chính phủ Mỹ vẫn chưa đưa ra một lời bình hay giải thích hợp tình hợp lý nào. Chỉ biết rằng, vào năm 1966, Bộ Y tế Mỹ đã cấm chế tạo và sử dụng LSD, cũng từ đó tất cả các quốc gia khác trên thế giới đã nghiêm cấm sử dụng loại thuốc này.

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •